Trần Xuân An - “Nguỵ” và “phiến”, hoà giải thời hậu chiến (tập thơ 27/49)




 44 bài mới + 01 bài cũ
 44 bài mới + 01 bài cũ



Link 02 bài bổ sung tập 27/49

Bài 1 thêm vào tập “‘Nguỵ’ và ‘phiến’…” thành bài 43

CỞI TRÓI TIỀN CHIẾN,

CỞI TRÓI HẬU CHIẾN

Trần Xuân An

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2855860444687888/

Bài 2 thêm vào tập “‘Nguỵ’ và ‘phiến’…” thành bài 44

NHÁNH TRẦN XUÂN TỘC TRÚC LÂM 

Ở NHĨ TRUNG, CÙNG HUYỆN

Trần Xuân An

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2858811371059462/

Xem thêm:

Bài XXIV (trong tập thơ “Trong tôi Bến Hải & Thạch Hãn):

SÔNG CÁNH HÒM 

ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA

Trần Xuân An

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844/

XEM TƯ LIỆU DẪN CHỨNG:

Tư liệu: 1953, sùng bái Stalin, chứng cứ gây phân hoá dân tộc

Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó

NIKITA SERGEYEVICH KHRUSHYOV

Phạm Ngọc dịch từ tiếng Nga

Sách tư liệu: SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 30 NĂM QUA (1949-1979) — Bộ Ngoại giao Việt Nam biên soạn, Nxb. Sự Thật, Hà Nội - 1979: 

LINK


Bài thơ 1 viết thêm, sau khi đã hoàn tất tập thơ 27/49 
(đã đóng tập, thực hiện sách PDF xong):


CỞI TRÓI TIỀN CHIẾN,
CỞI TRÓI HẬU CHIẾN
Trần Xuân An

~~ Văn học sử ghi công các nhà văn biên tập viên Văn nghệ
và nhà văn Nguyên Ngọc (1932-) thời “Cởi trói”.
Tưởng tiếc nhà văn “Tướng về hưu” (20-03-2021) ~~

mẫu quốc Pháp cởi trói
bật bút sắc Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Liên Xô cởi trói
Nguyễn Huy Thiệp khươi báo chí xôn xao

nhưng Hai Cuộc Sóng Thần châu Âu *
vỗ ào
cuộn máu đồng bào
chưa bút ai tự cởi trói

tôi nghĩ bút mình len đất sâu
leo trời cao
cây lịch sử, bút tôi chạm vào lõi
131 vòng năm, khổ đau, dữ dội *

không phải Pháp nào
Liên Xô nào
dân tộc ta phải tự cởi trói
tự trọng, tự hào, cho nghìn sau.

T.X.A.
15:22-16:20, 23-03-2021
………..

(*) ~ Thực dân Pháp, Hội Thừa sai Paris tại hải ngoại Pháp và Phong trào Cộng sản từ Nga Xô. Đúng ra, thực dân Châu Âu và Vatican đã bành trướng sang châu Á từ thế kỉ XVI. ~ 131 năm, gồm cả Chiến tranh Lạnh (1858-1945-1989/1991).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2855860444687888/

Bài thơ 2 viết thêm, sau khi đã hoàn tất tập thơ 27/49 
(đã đóng tập, thực hiện sách PDF xong):

NHÁNH TRẦN XUÂN TỘC TRÚC LÂM 

Ở NHĨ TRUNG, CÙNG HUYỆN

Trần Xuân An


làng Rừng Trúc, triều Lý xưa *1

nam Ma Linh cũ, vua đưa lính vào

mấy trăm năm tiếp, dài sao

"Ô châu cận lục" ghi bao người hiền *2


Dụ vua Nguyễn lùng Tây phiên *3

thua Sơn Chà, Pháp xô nghiêng Sài Gòn

Ngài đọc sách cầm kiếm côn *4

sau "Nhâm tuất" rời Trúc thôn, lánh mình 


từ Nhĩ Hà đất cổ kinh *5

thành Nhĩ Trung ở Gio Linh, biển gần 

quê vợ, Ngài được dung thân 

nhà ngoài làng, kề tiếng chân liên làng *6


nhánh Trúc Lâm xanh cồn hoang 

bên sông Cánh, mươi mùa vàng bến ghe *7

Trúc Lâm, quê gốc, Ngài về

đời con, đời cháu sống quê Nhĩ này *8


đời chắt, huyết thống đổi thay 

sông Cánh Hòm tình đong đầy An Cư *9

thời Bến Hải đạn lửa mù

Nhĩ Trung, mồ mả hoang vu... Dời về...


về Rừng Trúc, đồi vắng hoe

"Ô châu cận lục": vọng nghe người hiền 

nghìn xưa còn đó, tương liên 

vọng Nhĩ Trung lối ngàn liền nẻo khơi


Trần Xuân tộc không bỏ rơi

ông vô sinh vẫn nối đời khói hương *10

khác huyết thống, sống nhiều phương 

con cháu nuôi vẫn bình thường Trần Xuân


ơn vô tận, nặng vô ngần 

ba đời giỗ, việc họ dần giỗ chung 

hai quê nội, không ngập ngừng

để tròn hiếu Nguyễn Văn cùng Trần Xuân


ân tình, ân nghĩa, thắm ân

cành huyết thống ghép căn phần dưỡng nuôi

hai họ nội, cha nên người 

dù bi kịch, đều vẹn cười, bà ơi


nếu "Cởi trói" thuở sinh thời

hẳn cha thôi ngại luỵ đời cháu con 

ghi gia phả: sinh, dưỡng tròn

An Cư son, Trúc Lâm son, điểm hồng


chuyện xưa ấy, lạ gì không 

bà trung trinh, kính yêu chồng đó thôi

vuông thư ông Nguyễn, dặn rồi *9b

nhìn nhận con tuổi ba mươi... Khóc bà...


cha nhìn con, con nhận cha 
chuyện đời trước, trước tôi ra chào đời
hai nội thân, từ thiếu thời
nghĩa nghiêm đạo lí, nắng soi ấm tình.


T.X.A.

12:23-16:02, 26-03-2021

(hai hôm sau ngày giỗ Bà Cố, 12-02 âm lịch)

...........


(*) 1. ~ Trúc Lâm (tên làng ở Gio Quang, Gio Linh, Quảng Trị): Rừng Trúc. Đất làng Trúc Lâm ở phía nam châu Ma Linh, thuộc về Đại Cồ Việt từ 1096,  cách bờ phía bắc sông Hiếu không xa (sông Hiếu có lẽ là ranh giới giữa châu Ma Linh và châu Ô). 

2. ~ Dương Văn An (1514-1591), “Ô châu cận lục”: “Trong xóm Trúc Lâm đâu thiếu người hiền nghỉ ngơi bên trúc” (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú, Nxb. Thuận Hoá, 2001, tr.75); “Miền thôn ổ Trúc Lâm phải chăng là nơi hiền nhân ẩn dật?” (Văn Thanh, Phan Đăng dịch, chú giải, Nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr.71). 

3. ~ Dụ lùng bắt người Tây phương xâm nhập trái phép của vua Tự Đức và trước đó (triều Minh Mạng, Thiệu Trị). “Hoà” ước Nhâm tuất 1862.

4. ~ Theo phong tục, từ Ngài (đại danh từ biểu thị sự tôn kính, nói chung) cũng được dùng để gọi các vị gia tiên trong dòng họ, từ đời vải (trên đời cố/cụ) trở lên.  

5. ~ Nhĩ Thượng, Nhĩ Trung, Nhĩ Hạ (+ Nhĩ Hà), theo các nhà nghiên cứu, vốn là cư dân ven bờ sông Hồng (Hà Nội), vào đất châu Ma Linh (Minh Linh), từ thời Lý, vị trí cũng gần kề đất Châu Ô (đất sính lễ Ô, Lý từ Chế Mân, vị vua Chăm cưới công chúa Huyền Trân triều Trần). Sách “Ô châu cận lục” viết: “Một dòng nước Nhĩ Trung đáng là chi lưu sông Nhĩ” (bản dịch TĐV. & HVP., sđd., tr. 78); “Sông ở Nhĩ Trung xứng là chi lưu của sông Nhĩ” (bản dịch VT. & PĐ., sđd., tr. 74). Tuy vậy, vẫn có tác giả cho rằng dân cư Nhĩ Trung, tuy cũng từ thời Nhà Lý, nhưng từ Thanh Hoá, Nghệ An, vào định cư tại đây (sau năm 1069, đời vua Lý Thánh Tông, Ma Linh, tức Minh Linh, đã thuộc về Đại [Cồ] Việt). Làng Nhĩ Trung trước 1975 thuộc xã Gio Mỹ, nay phân định lại, thuộc về xã Gio Thành (cùng xã với hai làng Nhĩ Hạ [+ Nhĩ Hà], Tân Minh), cũng thuộc huyện Gio Linh, Quảng Trị. Còn làng Nhĩ Thượng vẫn thuộc xã Gio Mỹ như xưa.  

6. ~ Nhà ở gần miếu Âm hồn (mộ ông Trần Xuân Điền trước đây ở vị trí sát miếu này), thuộc xóm Phường, rìa làng Nhĩ Trung xưa, gần kề đường liên thôn, bên kia đường là bờ sông Cánh Hòm. 

7. ~ Sông Cánh Hòm nối liền sông Thạch Hãn với sông Bến Hải. 

8. ~ Ông khuyết danh họ Trần Xuân lấy vợ, sinh con, sống ở Nhĩ Trung được mươi năm, rồi ông lại về Trúc Lâm, vì tình trạng phân biệt ngụ cư, chính cư, và vì thời gian sau khi hoà ước Nhâm Tuất (1862) kí kết đã khá lâu. Đời con: Trần Xuân Khai (mộ phần trước đây ở cồn Chùa, xóm Phường, Nhĩ Trung); đời cháu: Trần Xuân Điền (nông dân, có học Nho Lão Phật, biết việc địa lí phong thuỷ, nghi thức cúng tế); đời chắt (khác huyết thống): Trần Xuân Khuê. 

9 & 9b. ~ An Cư (Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) là nguyên quán của đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886). Ở đây, nói đến hậu duệ (ông Nguyễn, tức là ông Nguyễn Văn Tương, cha đẻ của ông Trần Xuân Khuê). 

10. ~ Ông nội Trần Xuân Điền vô sinh. 


https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2858811371059462/


Xem thêm:

Bài cũ

Bài XXIV (trong tập thơ "Trong tôi Bến Hải & Thạch Hãn):

SÔNG CÁNH HÒM 

ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA

Trần Xuân An


dân dã tên sông, nhưng như huyền thoại

chiếc rương tư trang bay bay: Cánh Hòm

đặt bên Biển Đông, cánh đông biển biếc

cánh tây Rừng Trúc, mặt trời chiều hôm


sông quê mệ, song song bờ biển trắng *

Thạch Hãn bắc qua Bến Hải thanh ngang

Nhĩ Trung bên sông, An Cư liền mạch

tình ông Nguyễn buồn, nước mặn triều dâng


ông Trần là gốc trúc, từ Rừng Trúc

suốt đời cưu mang chuyện tình Cánh Hòm

rương tư trang, ngoài muối và cọng chiếu

đâu chỉ lúa mặn mòi, khoai đậm thơm


thương kính chiếc rương, cũ xưa, nắp kép

cùng chái tan, mệ chết, máu chảy ròng 

– đạn Pháp bắn bừa –, nát thư vuông lụa

đọng tình An Cư - Nhĩ Trung, thắm dòng


thư vuông lụa, gặp con, ông Nguyễn nhắc

cũng đều hay, trong huyết tộc thân sơ

mệ trung trinh dâu họ Trần đến mất

“sống gửi nạc, thác gửi xương”, nếp xưa


từ nách cánh – Nhĩ Trung, đã cải táng

quy tập về, trên đầu cánh – Trúc Lâm

thăm ông mệ, ngỡ lăng như khoá mở

rương bồ câu bay, trải lòng trăm năm *


Trúc Lâm vọng, sóng Cửa Tùng - Cửa Việt

sông Cánh Hòm, biển Triệu Phong - Gio Linh

rương tâm sự xưa: chim phơi đôi cánh

rưng rưng Bến Hải - Thạch Hãn quê mình


rương tâm sự bay, cứ như truyền thuyết

chân đậu Nhĩ Trung, gác mỏ An Cư

một cánh biển xanh, thuở tình bát ngát

một cánh Trúc Lâm, nghĩa nặng thiên thu.


T.X.A.

07:24-10:01, 26-5-2018 HB18

................


(*) ~ Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, mệ là bà, người phụ nữ già cỡ tuổi bà, như mệ nội (bà nội), mệ ngoại (bà ngoại), mệ đồng hương... ~ Chim bồ câu trắng là biểu tượng hoà bình trong tự do, chứ không phải hoà bình trong nô lệ.


https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2058080964465844/


Bài 1

TRÚT GÁNH NỢ CẦM BÚT
Trần Xuân An

cất khỏi vai gánh nợ người cầm bút
Đỏ thắng Vàng, mười chín tuổi chưa qua *
Đỏ bắn Đỏ, cũng học trò, dạy học *
thơ máu xương, góp vào sử rõ ra!

hai gánh nợ, thiếu khuyết và nghiêng lệch
viết đền bù, đầy đủ và thẳng ngay
thành gánh sách, hai vai ta nhẹ nhõm
tuổi xế trưa, nắng trăm năm còn dài

nhưng đâu phải tính tẩy trần, gác bút
chỉ xong thêm Chiến tranh Lạnh thuở nào *
vẫn viết về cõi khổ đau, hạnh phúc
thôi đạn bom, nỗi xương trắng, máu đào! 

không phải tránh nội chiến Chiến tranh Lạnh
đã “Chín đoá…” bù “Mùa hè bên sông” *
chung hộp sách mười bốn cuốn treo mạng
chưa sách giấy. Nhẹ vai. Chưa yên lòng.

T.X.A.
trước 10:30, 23-11-2020
…………….

(*) Thời “Chiến tranh Vàng – Đỏ”: 1945-1975; thời “Chiến tranh Đỏ – Đỏ”: 1975-1989/1991. Đó là hai giai đoạn “Chiến tranh Lạnh” (1945-1991) ở nước ta và cả Đông Dương. ~ “Chín đoá đỏ vàng lam” (thơ, truyện, 13 đầu sách) và “Mùa hè bên sông” (tiểu thuyết, 01 đầu sách), cùng chung một đề tài hoà giải dân tộc thời hậu chiến, của tác giả Trần Xuân An. ~ Bài thơ trên đây được viết sau khi đã đóng lại tập thơ “Tổ quốc ơi…”, đã tạo thành tệp sách PDF với 41 bài thơ + 01 bài thơ vốn ở tập thơ trước.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2763249540615646/

LINK các bài trước 

(bấm vào để đọc từ b.2 đến b.11)

Bài 12

“CƯỠNG BỨC TÌNH DUYÊN”,
CHUYỆN THỜI CHIẾN TRANH
Trần Xuân An

người làm ơn, ngầm cưỡng bức lòng người
ân đức ấy ngầm buộc người phải chọn
thoát nhà lao, vào tình duyên không trọn
người thuỷ chung, người chung thuỷ suốt đời 

khi tấn tuồng lịch sử đổi màn rồi
người vỡ mộng lại gặp người mộng vỡ
người ngoài lao nhờ kẻ quen giúp đỡ
người trong lao thoát ra, thành vợ chồng

thời chiến tranh cũng đời thường nỗi lòng
rời Việt Minh, người về sau bị bắt
người về trước, theo chính danh, dù nát
dựa quan quyền triều Nguyễn, cứu tình duyên

cứu khỏi tù, lễ cưới tơ hồng thiêng
dùng ân nghĩa trói đời nhau bền chặt
sợi lạt mềm buộc đời nhau, tẩm mật
vậy có là cưỡng bức tình duyên không?

vị đắng chát, trà, cà phê, tỉnh lòng
viết văn chương, nhìn đâu cũng bi kịch
thấy ân nghĩa sáng trong như ngọc bích
mang cạnh sắc vị kỉ cứa đau tim

tuổi sóng tràn và bay bổng cánh chim
gọi đó là tình duyên bị áp lực
cứu khỏi tù, cưới nở hoa tâm phục
khi bạc đầu thấy vậy cũng thương thương

tôi bạc đầu, học lại về yêu đương
thành vợ chồng, có nhiều người chinh phục
lớp sơ cấp hôn nhân và hạnh phúc
chịu cưỡng bức học cho xong, xoá mù *

tình duyên đó như ca dao hát ru *
chuyện Thạch Sanh nhưng Lý Thông không có
cứu thoát hang Đại Bàng, nên chồng vợ
ân hoá tình, đâu chỉ yêu với yêu.

T.X.A.
22 & 23-12-2020
…………..

(*) Chính sách cưỡng bức (cưỡng bách) giáo dục, bắt buộc phải đi học trường phổ thông, ở các nước tiên tiến, ngày xưa. Trong “Chương trình Việt Minh” (Hồ Chí Minh, 1941), có sử dụng cụm từ "cưỡng bức giáo dục". Ở đây, nói về điều kiện đăng kí kết hôn, buộc phải có chứng chỉ đã học xong lớp hôn nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc, “xoá mù” kiến thức về lĩnh vực này. Tác giả cũng chỉ nói đùa, rằng bản thân tuy bạc tóc, vẫn lơ tơ mơ. ~ Trích “Thạch Sanh”, truyện thơ dân gian:

“Đàn kêu: tích tịch tình tang
Tiếng ti, tiếng trúc cung đàn đua vui.
Đàn kêu hơn thiệt mọi lời
Nhân duyên phu phụ số trời đã se”.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2789568704650396/
.


Bài 13 viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
CHÚT NGÔNG LẤY HÊN TUỔI MỚI
Trần Xuân An

lịch mặt trời quên một tuổi ta
sáu lăm năm, suối hoá sông xa
nguồn sơ sinh đến bến phai tóc
(chưa khắp biển, chưa mưa lại nhà)

tin tưởng mình còn lâu mới chết
còn chèo dòng sống, dài thăng trầm:
viết trường vàng, viết tiếp trường đỏ
giảng dạy, vắt biên vải, viết thầm *

vẫn cầm bút, viết một chồng sách
nửa sách giấy và nửa mạng treo
danh ngỡ tác gia, không sống hận
gặp thời buổi khó, sự nghiệp bèo

nhỏ mơ: chữ dựng nhà thơ lớn
biệt một dòng văn sử, còn mơ
sách với sọ bừng hoa chín đoá
trên thuyền, bút gõ mạn, trăm bờ

lịch mặt trời còn lịch mặt trăng
thơ yêu đủ đắp mộ, nghìn trang
sông tình tới cuối sông còn lắm
trăm tuổi bút, thơ tuổi trẻ măng.

T.X.A.
06:15-09:30, 30-01-2020
…………..

(*) Vắt biên vải: vắt sổ quần áo.
(Bài này đã gửi tuần báo Văn nghệ TP.HCM.)

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2795703347370265/
.

Bài 14 sau “Tổ quốc ơi…”
BỐN MÙA THỂ LOẠI
Trần Xuân An

thơ tình nhân loại muôn năm tuổi
trời đất vào xuân hàng triệu mùa
hạ sử, thu bình, đông tiểu thuyết
mùa nào tình cạn xuân tàn chưa!

hạ bừng sử điểm tình xuân chữ
thu thẩm bình ken, len truyện đông
không tháng năm nào tình tắt thở
não tươi chất xám, tim tươi hồng

đời xưa trong truyện, tình luôn mới
sử đọng nhịp tim, lay vạn sau
muôn thuở thơ tình vương hiện thực
thoát li đời, cũng đỡ mày chau?

Cô Giang, tình sử – tình trong sử
“Màu tím hoa sim” Bến Hải thương
lí luận “Nhân văn”, nay cởi trói
tình nào truyện Vĩ tuyến vơi sương?

lẽ nào duyên thắm mai vàng nguỵ?
tình đẹp đào hồng mới thật ư?
muôn thuở, thời nào cũng vạn thuở
yêu đương, xuân sắc cả huyền hư

bốn mùa thể loại xen canh chữ
thể loại nào mà chẳng chuyện tình!
hiện thực vấn vương thì hoá giải
lợi quyền, chiến tuyến, méo tâm mình.

T.X.A.
07:12-08:40, 01-01-2021
(19-11, mùa đông năm Canh Tí HB20-21)

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2797175313889735/
.

Bài 15 sau “Tổ quốc ơi…”
NỘI CHIẾN TRANH GIÀNH ĐẤT MẸ
Trần Xuân An

dựa hai thiên hạ, chia hòn máu
bắn giết lẫn nhau, nhà Mẹ tan
“Vòng phấn Kavkaz”! Giằng – xé xác *
hiểu sâu hiện thực để thương dân 

mỗi phe ghì siết một tay Mẹ
giằng Mẹ về mình, xé Mẹ chăng?
kịch gián cách thôi, nhưng lịch sử
đẹp phe buông, nội chiến, đầu hàng

Đất như Mẹ đẻ, Miền Nam khóc
“Vòng phấn Kavkaz”, xé ruột, buông *
hoà giải, trầm tư hồn cốt kịch
kết đồng sáng tạo, thiết tha thương

A.Q. không nhỉ, Miền Nam hỡi? *
hoà giải, đúng không, hay đã sai?
tôi viết thơ hoà bình, thống nhất
trầm tư “Vòng phấn…” lại, do ai?

nhưng cờ cộng sản, phải xương máu
lồng nội chiến vào đánh thực dân
phải cướp chính quyền ý hệ cũ
Miền Nam sao hiểu đỏ lòng nhân!

hiểu lòng nhân Đỏ, nơi đời thật
thấy sử Đông Âu, quanh nước mình
“Vòng phấn Kavkaz” trong nội chiến
còn hàng giặc ngoại, muôn đời khinh

thật ra, hai nửa nương hai Khối
thống nhất, buộc ràng vào Khối kia
“Vòng phấn Kavkaz”, Mẹ sống sót
ngoại cường Đỏ đó, gánh ai chia!

thế rồi hai Khối đều buông cả
(nội chiến anh em, dựa ngoại xâm)
ruột thịt thực dân vào ruột thịt
sử gia chân chính, bút còn tâm

Campuchia! Giải phóng là thế
chỉ giúp người Cam đất nước Cam
nhưng “cấm đụng cây kim sợi chỉ”
sao người Miền Bắc ngập Miền Nam?

văn chương là tấm gương soi thật
tráng thuỷ có khi méo mó người
kịch gián cách cho đời phản tỉnh
có ai tự vấn, khóc hay cười?

T.X.A.
02-01-2021

………….

(*) Vở kịch gián cách “Vòng phấn Kavkaz” của Bertolt Brecht (1898-1956). Ở đây, tôi muốn vận dụng sáng tạo, trong tinh thần hoà giải dân tộc, rằng: Hai anh em ruột đánh giết nhau, giành nhà đất và giành mẹ đẻ; ai tham lam quyết giằng kéo đất và mẹ về mình là xé đất và xé cả thân mẹ (trong tranh chấp, là kẻ giết đất và giết mẹ đẻ của mình). ~ “A.Q. chính truyện” của Lỗ Tấn, viết về tâm lí dối lòng mà vui trong thực trạng đáng buồn, thường được gọi là “phép thắng lợi tinh thần”.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2797757687164831/
Xem thêm: “Chuyện trò với một người bạn học thân mến” (05-01-2021) ngay tại khung trang này, hoặc tại: 

https://txawriter.wordpress.com/2021/01/06/chuyen-tro-voi-mot-nguoi-ban/


CHUYỆN TRÒ
VỚI MỘT NGƯỜI BẠN HỌC THÂN MẾN
Trần Xuân An

I.
Thực tế bất chấp đạo lí và lẽ phải. Lịch sử cho thấy thực dân Pháp và Hội Thừa sai Paris tại hải ngoại của Pháp xâm lược nhưng cũng mị dân là “khai hoá”. Các chiêu bài phải lộ mặt khi nhìn vào thực tế. 

II.
Sự thật? Mình chỉ hoà giải thôi:

1) Trong chiến tranh, Miền Nam chỉ than khóc vì nội chiến và sợ hãi cộng sản. Miền Nam hầu như buông tay từ 1945. Điều đó thể hiện trong văn học nghệ thuật. Trong khi đó, Miền Bắc thì dựng nên nhiều chiêu bài và văn nghệ sĩ đều viết theo các chiêu bài ấy.

2) Thống nhất, hoà bình là tốt, nhưng Miền Nam không muốn bị áp đặt chủ nghĩa Mác-Lê và phụ thuộc Liên Xô. Họ cho rằng Miền Nam bị cộng sản xâm lược. Trong khi đó Miền Bắc lại bảo họ giải phóng Miền Nam bằng chủ nghĩa Mác-Lê của Liên Xô (cờ, ảnh Liên Xô khắp nơi).

3) Thực tế là dân và cán bộ Miền Bắc vào Miền Nam gần chục triệu người, nắm hầu hết quyền lực chính quyền, kinh tế… Miền Nam bảo Miền Bắc thực dân hơn cả Pháp! Nếu thực tế như Campuchia, đánh đổ Polpot – Iêng Xary xong, phải trả Campuchia cho người Campuchia (ở Miền Nam, không một người Miền Bắc nào vào ở tại Miền Nam), thì mới đúng đạo lí, lẽ phải. Anh ruột mà giết em, đè bẹp em, cướp nhà, cướp đất em thì cũng là xâm lược (nhấn mạnh: XÂM LƯỢC), nữa là giương cờ, cắm cờ, dựng ảnh Liên Xô!

TRÊN ĐÂY LÀ LÍ LUẬN HAI PHÍA. Mình chỉ hoà giải.

T.X.A.
05-01-2021

.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2799921653615101/

Bài 16 sau “Tổ quốc ơi…”
BÚT NHƯ NGỰA VỀ ĐƯỜNG CŨ
Trần Xuân An

đầu năm lịch mặt trời, khai bút
tìm tứ yêu đương cho trẻ trung
hai trái tim, sao còn bối cảnh?
thoát li chăng? Chỉ trời vô cùng! 

bút không sợ chạm vào niềm sử
và thể loại nào cũng chuyện tình
lạc tứ, bút quay về Bến Hải
gặp Brecht vạch trắng rùng mình *

thơ rung tim ấm, khi đầu sáng
gián cách, lạnh lùng, viết lắm rồi
về lại Phương Nam bằng ngọn bút
tận cùng hiểu sử, yêu nhân đôi! 

hát ngâm, đời hiểu thơ tiền chiến
Tổ quốc vong, thơ tình thoát li
nội chiến, ngoại xâm – hai Khối giặc *
xới cày sử, giới tuyến mà chi!

thoát li sử – đã nằm lòng sử
nếu chỉ thơ tình, đất giống trời
hai trái tim, cần chi bối cảnh
thơ yêu đương: thế giới hai người!

T.X.A.
14:34-17:33, 05-01-2021
………..

(*) Bertolt Brecht (1890-1956), kịch gián cách và thơ trí tuệ. Xem thêm hai bài thơ của Trần Xuân An: “Bốn mùa thể loại”, “Nội chiến tranh giành Đất Mẹ” (01 & 02-01-2021). ~ Xem: "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua", tài liệu Bộ Ngoại giao, Nxb. Sự Thật, 1979.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2800146380259295/

Bài 17 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
PHÉP MẦU Ở CAMPUCHIA
Trần Xuân An

lịch sử biến quân đội cộng sản Việt Nam
thành lực lượng chống cộng độc đáo nhất
trong mười năm
đánh Kh’Mer Đỏ
để tái thiết chế độ lập hiến – quân chủ
hiến pháp dân chủ được thượng tôn
trên đất nước Campuchia sư sãi áo vàng
thảo nào
Campuchia gọi đó là “Quân Nhà Phật”
phép mầu chăng?
một thế cờ tàn, khi Thiên An Môn đầy xác
khi rã Liên Xô, Đông Âu, không thể khác
khi mấy triệu xương khô khắp ruộng rừng hoang
lên tiếng kêu đòi cùng Biển Hồ mặn nước mắt *
khi bão lửa chủ nghĩa Mao lụi tắt!
khi khúc hùng ca
kết nốt lặng Gạc Ma
giữa Biển Đông sóng gầm, sóng thét!
lịch sử biến quân đội cộng sản Việt Nam
bảo vệ Tổ quốc chuyển sang kinh tế thị trường
quân đội nhân dân dân tộc
quân đội nhân dân học rộng mười phương
lại thuần tuý dân tộc
sẵn sàng chống mọi ngoại xâm.

T.X.A.
13:23-14:20, 08-01-2021

………

(*) Thủ tướng Campuchia Hun Sen: “Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật” (theo báo Quân đội nhân dân, 06-01-2019). ~ Tonlé Sap (Sông lớn, Hồ lớn), xưa nay được sách địa lí Việt Nam gọi là Biển Hồ, ở Campuchia.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2802754249998508/

Bài 18 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
LỘN TRÁI MAY LẠI ÁO QUẦN
Trần Xuân An

sự thật đời, bạn thân yêu ơi
tôi thấy lắm khi như bao tấm vải
không thể duy nhất mặt phải
cũng không bao giờ là mặt trái đơn thuần
phải chăng, đó là phương cách tồn tại
của mọi thực thể trần gian! *

những năm rời bục giảng, khó khăn
tôi làm nghề vắt sổ
quán may giao hàng
nhiều áo, nhiều quần
bạc màu do nắng mưa, sương gió
phải tháo ra, may trở
mặt trái ra ngoài, nguyên màu, đón xuân

vậy đó, niềm tin trong ngần
ở đời, sự thật như lá, lá đều hai mặt
cũng có nhiều mặt trái lá, sâu ăn
dù mặt phải lá, vẫn còn tươi, xanh ngắt
nhưng muôn cây mãi tốt, đại ngàn
ruộng vườn bát ngát

tôi vắt sổ áo quần
lộn trái còn nguyên sắc
dù vải che người, không bằng
lá ruộng vườn, lá rừng nguyên hai mặt
cũng đủ ấm lòng tin sự thật
sao bạn còn chút gì băn khoăn
chút gì kinh ngạc
về hầu hết nhân vật hiện thực
thời hai bên nương hai Khối, chiến tranh
thời hậu chiến, hoà bình, thời thôi đói rạc
trong thơ và tiểu thuyết tôi, tốt lành!
như “lá xanh, bông trắng, nhị vàng”
lật lại, không khác
“nhị vàng, bông trắng, lá xanh” *.

T.X.A.
13:21-16:02, 08-01-2021

…………

(*) Tính toàn diện, toàn bộ của sự thật: “Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì đó là giả dối” (danh ngôn / ngạn ngữ Nga [?]); “Một nửa sự thật thường là điều dối trá to lớn” (Half a truth is often a great lie) Benjamin Franklin (1706 – 1790). ~ Chế Lan Viên, bài “Lộn trái”, 15-09-1988, Vũ Thị Thường sưu tầm, biên soạn, xuất bản (Chế Lan Viên toàn tập, Nxb. Văn Học, 2002).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2802471206693479/

Bài 19 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
CON & NGƯỜI,
CÁI CHÍNH LÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ
Trần Xuân An

“Con Người, hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh” *
ai tách ra phần “Con” và phần “Người”
“Con” là động vật tham sân si, giữa đời u tối *
“Người” là cao cả, tốt lành, được sáng soi

tham sân si mức nào mới thành tội phạm
cao cả, tốt lành mức nào thì được tôn thờ
không phần “Con”, phần “Người” không nốt
không sâu sắc hiện thực, lãng mạn cũng ngây thơ

cái quan tâm chính là sự thật lịch sử
chỉ là sự thật lịch sử 131 năm
sự thật Đỏ sau “bức màn sắt”
trăng Mỹ kém tròn thua trăng Trung Quốc chăng *

và Con Người, ai kia đòi hạ bệ
vốn đắm chìm tham sân si, khoái lạc, đau thương
theo họ: Con Người, vang lên kiêu hãnh quá
nên cứ thét gào đòi cách mạng vĩ cuồng!

cánh tả! Cánh tả! Maiakovsky: “Quay trái!”
Chế Lan Viên “lộn trái”, thì “phải, phải”, được khen
con người may máy, thành máy may thì công cụ *
thơ không độc giả, thi sĩ Chế cũng “mình ên”! *
– ơi hỡi buồn tênh!

bút từng là công cụ chuyên chính sắc bén
thi sĩ như khẩu súng nã đạn đỏ nòng
ông từng bảo, hoà bình, chất tâm linh và trần tục
thơ sâu rộng tình đời, di dưỡng nội lực, thưa ông?

đọc “Lộn trái” và cả ngàn bài thơ “Di cảo”
đâu chỉ nhằm hiểu thế nào hai chữ Con Người
cái chính là hiểu một nhà thơ với sự thật lịch sử
Miền Bắc trong “Di cảo”, lưu tiếng khóc, tiếng cười

“Lộn trái”, rồi nghĩ cho cùng, “Trừ đi”, ông trăn trối *
bởi đâu chỉ viết nghĩa vụ cho Miền Bắc nước mình
vô hình trung, còn viết theo lệnh Liên Xô, Trung Quốc
nếu kháng chiến như Nguyễn Trãi, đâu phải tự khinh!

nhưng lịch sử đã thế, không cách nào bảo khác
ông từng viết cả dân tộc đành chịu như Kiều
– đúng ra, nương hai Khối, đuổi hai Khối ngoại xâm – hai Miền sám hối
để lòng tự trọng dân tộc hồi sinh, đáng kính yêu.

T.X.A.
12:34-17:01, 10-01-2021
…………..

(*) Gia đình cha mẹ và bản thân nhà thơ Chế Lan Viên vốn theo Phật giáo. Tham sân si (thuật ngữ Phật giáo): Tham: tham tài sản, danh vọng, chức quyền, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi… Sân: nóng giận, thù oán, trả thù, ghen tị… Si: mê đắm, không biết phải trái… ~ Câu văn nổi tiếng của Maxim Gorki (1868-1936). ~ Ý thơ Việt Phương. ~ Hai bài thơ “Lộn trái” (1988) và “Trừ đi” của Chế Lan Viên. ~ Mình ên, tiếng Nam bộ, gốc tiếng Kh’Mer: một mình, cô đơn, lẻ loi.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2803995876541012/
.



Bài 20 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
TÔI KHÔNG “TRỪ ĐI”
Trần Xuân An

đời cầm bút như dòng sông
dòng sống
từ khởi nguồn đến biển
tác phẩm là nước, thong dong giữa đồng
sau khúc hai bờ đá nghiến
chảy lách, chảy vòng
sau quãng đá hụt hẫng, thành thác
đá lô nhô, thành ghềnh
bị sức ép nào, được tự do nào
hiện thực cưỡng bức ngấm ngầm ra sao
dòng sông chữ
vẫn nguyên dòng sông chữ
toàn bộ tác phẩm tôi, nguyên dòng sống
tôi chẳng “trừ đi” như Chế Lan Viên
mặc dù ông “trừ đi” chỉ là cách nói
toàn bộ tác phẩm ông còn vẹn nguyên
nguyên chứng tích
đoạn sông nào bị bức, hiếp!
không, tôi chẳng “trừ đi”!
nguyên vẹn dòng sống dòng sông.

T.X.A.
06:45-09:12, 12-01-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2805259419747991/
.

Bài 21 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
HỪNG ĐÔNG CỘNG SẢN
TỪ KHOA HỌC – KĨ THUẬT
Trần Xuân An

một trăm năm, hai trăm năm, năm trăm năm
có thể, và cũng có thể ngàn năm sau nữa
hồng hoang nguyên thuỷ lại hừng đông Đỏ
lúc máy tự động làm thay hoàn toàn cho loài người

đó là lúc không còn nạn cướp đoạt mồ hôi
bóc lột xương máu, chiến tranh xâm lược
của cải vật chất thừa mứa trên Trái Đất
loài người hoàn toàn có máy tự động làm thay 

loài người không chỉ có duy nhất Trái Đất này
tài nguyên vô cùng tận, tỉ năm chưa dùng hết
ít ra ở những hành tinh gần nhất
chiến tranh xâm lược làm gì, nhân loại ơi!

văn minh cơ khí, điện tử đều khắp nơi nơi
hàng loạt nước tối tân, chứ không phải một nước
bừng hừng đông cộng sản đều khắp Trái Đất
chính tiến bộ khoa học công nghệ sáng cõi đời!

131 năm chiến tranh gần đây thôi
cả dân tộc, kể cả khi hai Miền nội chiến thảm khốc
chỉ vì Độc lập, Tự do, Dân chủ như trăm đất nước
Việt Nam mình độc lập, tự do thật sự chưa?

T.X.A.
07:01-07:55, 13-01-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2805876933019573/

Ảnh Google search

Bài 22 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
HOÀ GIẢI ĐỂ HOÀ HỢP,
KHÔNG PHẢI ĐỂ CHIA RẼ
Trần Xuân An

hiệp ước nào cũng chỉ là cưỡng ước
kí bằng bút, nhưng bằng xích xe tăng
Pháp cưỡng ước, vẫn đấm thép vào Huế
hoà giải ư, Dinh Độc Lập đầu hàng

quá thấu hiểu, còn làm thơ hoà giải!
chửi rủa nhau hậu chiến, chưa hoà chăng?
ít chỉ chỏ, nhưng lại nhiều yêu mến
mến nhưng lo, vì báo giấy chưa đăng

Tito đỏ, trung lập giữa hai Khối *
Che cũng đỏ, ghế cao, thất vọng sâu *
ảnh hưởng bút học trò, rồi thầy giáo
thiên chức thơ, hoà giải để thương nhau

Pháp thực dân, Đỏ mình là người Việt
(chống Cam đỏ, Tàu cộng, Nga hoàn Nga)
“hãy cứu mình, trước khi Trời Đất cứu”
hoà giải để hoà hợp, ta với ta!

trong Hiệp ước, hoà giải là pháp lí *
là công lí và đạo lí Việt Nam
Trung Quốc cướp Hoàng Sa là xâm lược
chỉ Hiệp ước Đồng bào mới muôn năm.

T.X.A.
07:34-09:01, 18-01-2021
…………..

(*) Josip Broz Tito (1892-1980); Che Guevara (1928-1967). ~ Hiệp định Paris 27-01-1973 về Miền Nam Việt Nam.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2809340002673266/

Ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp

Bài 23 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
KHÍ KHÁI ĐÀNG TRONG
Trần Xuân An

người Quảng Nam, người Đàng Trong khí khái
chất người này do đất thoáng người thưa
trời cao tiếp Trường Sơn, Biển Đông rộng
một bất bình, đứng dậy, ghế cũng lùa 

đất sông Hồng nguồn cội, thông cảm nhé
(nhớ Đàng Ngoài, “Gái Bắc” Nguyễn Tất Nhiên!)
Đàng Trong hỡi, mềm mỏng cho nhờ chút
đất mở cõi hết rồi, giữ cương yên! 

nói thẳng ra, Miền Nam người Nam giữ
vỗ bàn chi, lùa xô ghế làm chi
người xưa bảo đất nào nên cọp nấy
Miền Bắc ơi, ruột thịt cũng nhớ ghi!

học Tito, học Che, ta thất thế *
vàng lí lịch cha ông, thủ phận rồi
nhưng khổ nỗi, máu lại ưa cầm bút
sợ giải phóng thành xâm lược, sử cười!

văn muôn thuở từ bi kịch thời đại
người thất thế không viết, ai viết đây?
người Miền Nam có quyền hành, cũng đỡ
kiểm duyệt ta, lẽ nào nghiệt hơn Tây! 

tuy Miền Nam cũng có sâu trong gạo
nắm quyền hành – đao phủ chém gốc Nam
nhưng bạn ta: Người Miền Nam khí khái
sao xô ghế, thoát thân về nhà nằm? 

T.X.A.
09:19-10:45, 18-01-2021
…………..

(*) Josip Broz Tito (1892-1980); Che Guevara (1928-1967).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2809379096002690/
.

(…)
Tito đỏ, trung lập giữa hai Khối *
Che cũng đỏ, ghế cao, thất vọng sâu *
ảnh hưởng bút học trò, rồi thầy giáo
thiên chức thơ, hoà giải để thương nhau

(…)

Bài 24 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
NGÀY “HỮU NGHỊ” VIỆT – TRUNG
Trần Xuân An

Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, vì “hữu nghị”
mười tám tháng giêng nào, ta nhớ không? *
hai biên giới, Gạc Ma, vì “đại cục”
chiêu bài treo súng xâm lược đỏ nòng!

T.X.A.
trước 06:45, 19-01-2021
…………

(*) 18-01-1974, Trung Quốc đã khiêu chiến. Sau đó một ngày, 19-01-1974, hải chiến Hoàng Sa, Trung Quốc thật sự xâm lược.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2809921942615072/

Mượn ảnh từ FB Đăng Bình


Bài 25 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
CHÍ ĐỘC LẬP BÌNH SINH
THỜI LƯỠNG CỰC
Trần Xuân An

bước vào tuổi sáu lăm, lại tự hỏi
đời ta sao? Từ Huế mới lọt lòng
dòng sống chảy tương tác cùng thế Đất
vận Nước là hai Khối chẻ dòng sông 

sáng Nam Tư, Tito nhân vật sử *
đau, cầm súng cho Đế quốc Áo – Hung
buồn, cầm súng cho nước Nga xô-viết
chống hai Khối, đỏ riêng sắc trung dung

du kích quân Cu Ba từ Nam Mỹ
thắng, ngồi cao, ghê máu chảy hoà bình
Che tự thành hòn đá của Sisyphe *
tự lăn lên rồi tự thả, hiện sinh!

tuổi trung học, hai người như đất sét
ta nhào nặn một thần tượng nước mình
vào đại học, ta đỏ màu sáng tạo
a ha ha, chí độc lập bình sinh!

sau mấy năm Việt Minh, quãng độc lập
cha hồi quy chính danh, về Quốc gia
mạ tản cư, bị bắt, rồi được cứu
nhưng tư tưởng, ta tự sáng tạo ta 

đỏ thống nhất, thật lòng ta cũng đỏ
đùa đỏ ớt, đỏ cà chua, cay chua
bị chối từ vào Đoàn (nói chi Đảng!)
vẫn thành tâm nhà giáo đỏ lạc mùa 

ta từng viết ta như giáo sĩ đỏ
“Kẻ tuẫn đạo” của Unamuno *
(ông làm lễ, nhưng lướt câu kính tín!)
lãnh tụ ngoại, Nga – Trung, ta phớt lờ

ba bảy năm, dân đen công dân đỏ
thời “Cởi trói”, văn sử đỏ, đỏ vàng
ta vẫn vậy, họ Trần nhưng gốc Nguyễn
sách ta đỏ, sắc đỏ Trần Xuân An

thời trẻ tuổi, ta nhà thơ, nhà giáo
mất một nhà, chỉ còn lại một nhà
may “Cởi trói”, ta xây thêm nhà sử
nhà tiểu thuyết, nhà luận — xương máu ta

Đảng cầm quyền muốn đỏ thì cứ đỏ
Đảng vẫn đỏ, ta công dân đỏ thôi
Đảng dân tộc, ta mừng thuần dân tộc
học trăm phương văn minh của loài người

trong đời thường, dân đen công dân đỏ
với hiến pháp, luật pháp, ta tuân hành
trước trang viết, ta một chí độc lập
bóng lãnh tụ ngoại cường đè, sao đành!

cuộc đời ta, bao giờ cũng minh bạch
tác phẩm ta cũng giấy trắng mực đen
cống hiến đời gần năm mươi đầu sách
sự nghiệp còn, vượt thắng mọi lãng quên.

T.X.A.
20-01-2021
…………..

(*) Josip Broz Tito (1892-1980); Che Guevara (1928-1967). ~ Sisyphe, nhân vật thần thoại, bị hình phạt của Thượng thần chúa tể Zeus, cứ phải lăn đá lên đỉnh núi rồi thả xuống chân núi. Đó là một hình phạt khiến nạn nhân cảm thấy vô nghĩa, phi lí, nên đành phải tìm ý nghĩa sống trong tình cảnh chung thân, muôn kiếp vô nghĩa, phi lí của kiếp người, của trần gian. Albert Camus, nhà văn, triết gia hàng đầu của chủ nghĩa hiện sinh, đã viết lại thần thoại này. Chủ nghĩa phát-xít Hitler từng vận dụng hình phạt ấy, ở giếng nước (múc lên, đổ xuống), khiến nhiều tù nhân tự tử vì không thể chịu đựng nổi sự vô nghĩa, phi lí. ~ “Kẻ tuẫn đạo” (“San Manuel Bueno, Mártir” – Thánh Manuel Bueno, tuẫn đạo) của Unamuno, tác giả người Tây Ban Nha, Trần Xuân Kiêm dịch, Nhà xuất bản Quế Sơn – Võ Tánh, Sài Gòn, 1971: Nhân vật giám mục trong truyện được phong thánh sống, nhưng ông không bao giờ đọc câu kinh thể hiện đức tin về sự tồn tại Đức Chúa Trời. Ông không tin có Chúa Trời, mặc dù đó là điều răn số một, cơ bản nhất của Thiên Chúa giáo.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2810820145858585/
.

sau mấy năm Việt Minh, quãng độc lập
cha hồi quy chính danh, về Quốc gia
mạ tản cư, bị bắt, rồi được cứu
nhưng tư tưởng, ta tự sáng tạo ta

.

.

Ảnh: Google search


Bài 26 thêm vào “Tổ quốc ơi…”

NHÂN MÙA BẦU CỬ Ở MỸ HB20-21,
NGHĨ VỀ SỬ SÁCH NƯỚC MÌNH
Trần Xuân An

người đứng đầu nghiễm nhiên vào sách sử
lễ đăng quang cả nước chói ngai vua
sử trăm vua, chỉ dăm vua được quý
nghìn năm bầu, mươi tác gia vạn mùa!

sử lịch đại, tộc phả và gia phả
hẳn còn lưu hay tro bụi mịt mờ
tất cả rồi thời gian sàng lọc hết
tên tuổi nào không chỉ vết mực khô?

sao chữ tâm gấp ba chữ tài nhỉ?
luyện sáng tâm gấp ba luyện sáng tài
trò hư danh, trò quyền lực, muôn thuở
thời gian rõ tâm và tài trên ngai

không là vua. Tướng anh hùng, nghĩa sĩ
quan yêu nước, lính dũng cảm cũng nhiều
chưa thi hào, thì nhà thơ, nhà sử
nhà tiểu thuyết, nhà tiểu luận, không điêu. 

T.X.A.
05:12-07:15, 26-01-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2814918208782112/


Bài 27 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
NỮ THẦN TỰ DO DA ĐEN
TRÊN ĐỒI CAPITOL
Trần Xuân An

Amanda Gorman, trẻ trung và xinh đẹp
nhà thơ nữ da đen
hậu duệ xa đời người Phi Châu nô lệ
nỗi đau nước Mỹ ở Châu Mỹ, chưa quên

bài thơ Amanda vọng vang âm hưởng
Lincoln, Luther King, Obama
người giải phóng nô lệ, người đòi quyền sống
người tổng thống Mỹ đầu tiên đen màu da

Amanda Gorman, trẻ trung và xinh đẹp
nhà thơ nữ da đen hậu duệ nô lệ da đen
đọc thơ chào tổng thống trắng đã quỳ xuống
trước thét gào đen “Cho thở với!, Chauvin!

thơ Amanda vọng vang tiếng búa thanh toán
đập vỡ tượng nhân vật sử buôn bán da đen
và màu sơn bôi xoá tượng, mặc Covid-19
mắt Nữ thần Tự Do mở lớn, lệ hoen

thơ nói thay Kalama Harris, nữ phó đắc cử
biểu tượng sắc Ấn, nửa món nợ Đế quốc Anh
Đế quốc Anh là mẫu quốc của nước Mỹ
của người Mỹ thời khai khẩn khai canh

nhà thơ nữ Amanda đọc thơ đoàn kết
có tiếng bay chim câu điểm xuyết trắng đen
tiếng thép dựng xây và luật thép cấm phá
chỉ dựng bia tố cáo tàn sát ”Red Indian” *

Amanda Gorman, trẻ trung và xinh đẹp
biểu tượng đoàn kết: nhà thơ nữ da đen
hậu duệ xa đời người Phi Châu nô lệ
thành Nữ thần Tự Do, tiếng thơ lớn, lệ hoen.

T.X.A.
14:23-16:15, 27-01-2021
…………..

(*) “Red Indian” có nguyên nghĩa là người Ấn Độ đỏ. Nguyên do là thổ dân Châu Mỹ vốn có màu da vàng hơi sẫm, không sẫm như người Ấn Độ, nhưng giông giống màu da người Ấn Độ, khi ra trận thường tự tô phẩm đỏ lên mặt để uy hiếp đối phương, nên thực dân Anh ban đầu ngỡ họ là người Ấn Độ, bèn gọi là Indian, hay American-Indian, Red Indian. Ngữ danh từ “Red Indian” có tính phản cảm đối với các tộc da vàng thổ dân Châu Mỹ. Họ không phải là người Ấn, màu da họ cũng không đỏ! Nhưng ngữ danh từ ấy vẫn còn được dùng trong những ngữ cảnh nhất định.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2815995575341042/

(đã đăng tặng ở Facebook của nhà thơ nữ trẻ Amada Gorman)

Ảnh nhà thơ Amada Gorman đọc thơ trong lễ nhậm chức của Joe Biden và Kalama Harris — Google search


Bài 28 thêm vào “Tổ quốc ơi…”

VƯỚNG MẮC XƯƠNG LỊCH SỬ,
NGƯỜI MỸ ĐÃ THÔNG MINH
Trần Xuân An

khai mở ra Tân Thế giới bằng máu
và mồ hôi, đất và nhân phẩm thổ dân
người Châu Phi nô lệ thành công cụ biết nói
chương sử ghê tởm ấy, may có Lincoln

may có Luther King, Obama, Harris nữa
Toni Morrison, và thơ Gorman, vừa mới đây
toả sáng lui lịch sử, sử dễ coi hơn trước
sử Mỹ không khác, chỉ nối thêm hiện tại, tương lai

dân tộc ăn thịt dân tộc, đất nước nuốt đất nước
cổ đại hay cận đại, đều thế cả! Thời đó đã qua
ngày nay, luật dân chủ có thể truất tổng thống
hoà giải quá khứ, biết sắp xếp màu da

liên danh đen trắng là thông minh, thấu tình đạt lí *
đủ sức mạnh, nói về độc lập Tây Tạng, Tân Cương
chặt giúp khỏi Biển Đông “lưỡi vạch” Trung Quốc
thoát ngọng nghịu vì sử Mỹ, vướng xương!

bầu cử Mỹ chả liên quan gì nước mình hậu chiến
hai trận sóng thần Xanh rồi Đỏ, 131 năm! *
cơ chi thống nhất, vẫn hai Miền, Miền Nam tự quyết *
Miền Nam chỉ của người Miền Nam

bầu cử Mỹ chẳng liên quan gì nước mình
Thiên Chúa giáo Rôma xâm lược
Chủ nghĩa Marx-Lenin xâm lược
một phe dựa vào thực dân
“khai hoá” là mị dân
một phe dựa vào độc lập dân tộc
“giải phóng” là mị dân
cả hai đều dùng súng đạn bạo lực
áp đặt gông cùm vào Việt Nam
áp đặt, áp đặt, cưỡng bức, cưỡng bức
đó là sự thật
sử sách chẳng thế nào nói khác hơn!

hai phần bài thơ này chẳng liên quan
nhưng đều thể hiện cái nhìn
“nhìn thẳng vào sự thật
nói đúng sự thật!”

còn lại năm đoá đỏ chống xâm lăng
(lẽ ra chỉ có kẻ thù là Pháp và Nhật!).

T.X.A.
14:23-17:31, 28-01-2021
……….

(*) Liên danh đen trắng cũng như liên danh trắng đen (bao gồm cả da vàng thổ dân, chủ nhân Châu Mỹ cả vạn năm trước). ~ 131 năm: 1858-1989. ~ Hiệp định Paris 27-01-2021 về Miền Nam Việt Nam.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2816780545262545/
.
Ảnh: Condoleezza “Condi” Rice, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ (2005-2009), thời tổng thống George Walker Bush (Bush con) –
Google search:


Bài 29 thêm vào “Tổ quốc ơi…”
ĐỎ
Trần Xuân An

cọ xát vào thực tiễn,
                đỏ còn năm đoá chống xâm lăng
chống thực dân, phát xít, thực dân mới
chống cộng sản Trung Quốc bá quyền, đỏ chói
chống đỏ chói cộng sản diệt chủng Kh’Mer 

đỏ ngầm chống Mao, từ độ Huế Tháng Ba *
kinh tế – chính trị mặc dù rất “xô-viết Nghệ – Tĩnh”
nhưng thực tế là lãn công,
                 quan liêu hơn hành chính
đánh chủ nghĩa tư hữu,
                ruộng đồng thành thị xác xơ

đỏ ở hội trường vẫn lãnh tụ ngoại quốc Mác – Lê
vẫn sùng chủ nghĩa cộng sản Nga, dù Liên Xô rã
uy thế, mức sống thời Đổi mới,
                nhờ không còn cực tả
từ độ chạm súng Kh’Mer Đỏ, Tàu Đỏ,
                đã “bung ra” *

chỉ còn chuyên chính độc đảng cầm quyền, bây giờ
Đất nước chúng ta đỏ bây giờ thế đó
nơi đặt tượng Quốc tổ Hùng vương,
                Mác Lê còn chiếm chỗ!
đỏ năm đoá chống xâm lăng, đỏ luôn đi:
                Gỡ cờ và ảnh lãnh tụ ngoại cường!

45 năm là công dân đỏ của Đảng cầm quyền
cảm giác vong nô rõ hơn dưới chế độ cũ
đã có chính thể nào như đế quốc Liên Xô,
                trong hàng ngàn năm lịch sử?
công dân biết là biết thế, nhưng vẫn tuân hành! 

xung đột ý hệ, bị lướt tới bằng chiến tranh
lịch sử lưu lại đó, đợi thời hoà giải
tôi cắm vào bình sọ, năm đoá đỏ chiến công vĩ đại
cùng bốn đoá vàng, lam, sáng tỏ mãi nghìn sau!

– “Chúng tôi tự hào đã đánh thắng 3 đế quốc to”
– “Chúng tôi tự hào vì không phải đánh nhau
                với đế quốc to nào cả”
 *
độc lập không đổ máu, tốt hơn quá nhiều máu đổ
nhưng thế Đất, vận Nước không giống nhau. 

T.X.A.
trước 09:12, 31-01-2021
………………

(*) ~ “Huế Tháng Ba”: 26-03-1975, ngày quân đội Miền Bắc vào quản lí Huế. ~ Kinh tế “bung ra”, bước đầu chấp nhận chủ nghĩa tư hữu, xem tư hữu là động lực kinh tế, từ 1979. ~ Theo Huy Đức (“Bên thắng cuộc”): “Năm 1991, khi thăm chính thức Thái Lan ông Võ Văn Kiệt nói: “Chúng tôi tự hào đã đánh thắng 3 đế quốc to”. Thủ tướng Thái Lan đáp lời: “Chúng tôi tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả””. Ba đế quốc to chắc hẳn là Pháp, Mỹ, Trung Quốc, còn Phát-xít Nhật, người Việt chỉ góp phần đánh đuổi, khi Nhật sắp đầu hàng và khi Nhật đã đầu hàng. Có lẽ đó là thủ tướng Anand Panyarachun, người trả lời thủ tướng Võ Văn Kiệt.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2818628441744422/
.

.


Bài 30 thêm vào “Tổ quốc ơi…”

VUA GIA LONG – BÁC HỒ
Trần Xuân An

hai trận sóng thần Xanh rồi Đỏ châu Âu
đổ bộ nước ta, Nguyễn Ánh rồi Nguyễn Ái Quốc
kẻ cứu công lao Chín Chúa, người cứu Đất nước
“Hiệp ước Versailles”,
                “Luận cương thuộc địa”
, khác nhau? *

một “sát tả” để độc lập, rồi mất nước! Đau!
một độc lập, Liên Xô rã còn cắm cờ, dựng ảnh
hai trận sóng thần hai Khối — Chiến tranh Lạnh!
đỏ vàng lam, chín đoá,
                nở trên bình sọ trắng, đất nâu.

T.X.A.
08:34-10:11, 01-02-2021
………….

(*) Hiệp ước Versailles 1787 giữa Pháp và Pigneau de Béhaine, giám mục đại diện Nguyễn Ánh, nhưng hiệp ước này không thực thi; “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” 1920 của Lenin và bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lenin” của Bác Hồ.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2819530188320914/
.


———>     
———>



Bài 31, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
CHÈO GHE VƯỢT CẠN
Trần Xuân An

~~ tặng bạn Võ Văn Luyến (nhà thơ) ~~

chèo ghe trên bờ cạn
“vượt cạn” đều “mồ côi”
làm thơ, lọt lòng tứ
bút chèo giấy mây trời!

viết, kết hôn với Đời
nhà văn là Người Mẹ
bản thảo đau sinh đẻ
đều “vượt cạn” “mồ côi”

Mẹ – biểu tượng sáng tạo
cả vật lí, y khoa…
nở nhuỵ ở vầng trán
hay từ ngực khai hoa!

thiên tính Mẹ, trừu tượng
vâng, thiên tính tinh khôi
ai cũng có tính Mẹ
tính Mẹ là tính trời

thiên tính Mẹ – sinh sản
sáng tạo cả thế gian
như mọi người trần thế
tính Mẹ trong nhà văn

cho dù nam hay nữ
tính Mẹ đều trong ta
nhà văn không tính Mẹ
phản ánh Đời mù sa! 

không ai đau thay được
xé ngực sinh sách Đời
“vượt cạn” như huyền thoại
đồng nghiệp đến ru nôi.

T.X.A.
trước 14:00, 02-02-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2820327728241160/


.

Bài 32, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”

THƯƠNG TRÂU,
THƯƠNG BÚT PHÍM
Trần Xuân An

cuối năm, chờ đón Tết Trâu
thầm nhớ bài ca dao cổ
nghìn đời thân thương gắn bó
“cấy cày là việc nông gia *
ta đây trâu đó ai mà quản công”

như người, nông gia trên đồng
hơn người, bốn ngăn nhai lại *
thương người, trâu nhường thóc mẩy
“bao giờ cây lúa còn bông
thì còn ngọn cỏ trên đồng trâu ăn”

cùng giới cầm bút sử văn
canh tân ruộng đồng chữ nghĩa
không dạ dày tư. Răng bé *
viết nhai lại thì sách cằn
bật cười, loé Tết, khi nhằn ca dao

thương trâu, thương trâu biết bao!
khác loài, trời sinh ra vậy
Tết Trâu, nhận đây một lạy
người hơn người nhờ tài cao
nói cùng loài vật, nao nao loài người!

cầm bút, độc sáng, lẻ loi
trâu là bút cùng máy chữ
Tết Trâu, mỗi lạy mỗi thứ
cánh đồng giấy trắng mênh mông
cày ca dao cổ sáu dòng ra Giêng

Tết Trâu, bút phím cũng thiêng
chắp tay lạy, vơi áy náy
sáu dòng ca dao, mấp máy:
‘bút phím ơi, ta bảo này
cùng ra ruộng giấy, cùng cày với ta’…

T.X.A.
08:11, 10:34, 09-02-2021
(28 tháng chạp, Canh Tý HB20-21)
…………

(*) ~ Có dị bản: “Cấy cày vốn nghiệp nông gia”; “cấy cày giữ nghiệp nông gia” (câu thứ hai này thuộc bản sách Vũ Ngọc Phan, “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam“, in lần 8, Nxb. KHXH., 1978, tr.229). ~ Dạ dày của loài trâu có bốn ngăn (dạ dày tư).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2825193884421211/
.


Bài 33, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
NỤ HÔN TRƯỜNG CỬU
Trần Xuân An

đầu năm, trời đất hôn dài
hôn từ tháng chạp ra ngoài tháng giêng
nụ hôn như thể vô biên
sầu đông rừng tím, sông nghiêng mai vàng.

T.X.A.
Mùng một Tết Tân Sửu HB21
(14:52-15:01, 12-02-2021) 

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2827464210860845/

.

Bài 34, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
TẾT, TẶNG MỘT NGƯỜI
VÀ NHIỀU NGƯỜI
Trần Xuân An

~~ tặng Đ.Đ. & bài viết về gia đình bạn ~~

Tết, quét dọn quá khứ
sao máu sử lại tươi
nội chiến trong ngoại chiến
người viết, may lòng nguôi 

chiến tranh là thế đó
bắn, chặt đầu, đâm lê
lưỡi rựa, cán cuốc đỏ
mai gãy hồn làng quê 

chiến tranh là thế đó
chẳng bên nào nhân từ
Đỏ nhân, phải thắng đã
Vàng nhân, buông, phải tù 

có kẻ cướp thương đất
thành bộ đội anh hùng
có kẻ xăm “sát cộng”
thua bạc, giữ lòng trung

cũng có nhà vô sự
liên can mà vô can
chắp tay, Tết máu cũ
máu nội chiến đều oan 

oan – buộc lòng nội chiến
đối phương trong nhân dân
“giết oan hơn bỏ sót”
say máu, nhạc thúc quân

giết nhiều, càng yêu nước
“giết người mà lên lon” *
vòng hoa vì Tổ quốc
thành liệt sĩ, cho con 

bao người dân vô tội
bỗng dưng thành kẻ thù
huân chương hoài rỏ máu
ghế xương thời lửa mù

trẻ vô can, vô sự
đọc sử nội chiến, đau
hãy trách người viết sử
truyền thù đến nghìn sau! 

gắng viết sao cho thật
nội chiến ba mươi năm
Bắc, Nam đều ác! Nhớ
viết còn tình Việt Nam

đều Việt Nam yêu nước
thù nhau đến tận xương
hoà bình rồi, còn hận
do sử học, văn chương! 

bồi dưỡng, đầu cơ hận
khoét sâu, thổi phồng thù
có phải mưu độc chiếm
hay chước để loại trừ? 

hai phía đều yêu nước
chống hai Khối ngoại xâm
mỗi phía nương mỗi Khối
vận nước của Việt Nam

bút sử cần có lửa
viết ngũ cường ngoại xâm
nhưng nội chiến, một nửa
cần toàn cảnh, sáng tâm.

T.X.A.
trước 15:23, ngày mùng 3 Tết Tân Sửu HB21
(14-02-2021)
……. 

(*) Nhạc phản chiến. Lon (le galon): quân hàm. Có trường hợp thăng quân hàm (lên lon) do chiến công, nhưng thường là lên lon theo thời hạn. “Hãy giết người đi con! Giết người mà lên lon!” là một lời chửi rủa, phản đối chiến tranh, chứ không phải là lời khuyên bảo nên như vậy.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2828985384042061/
.

.

Bài 35 viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
LÀM RUỘNG CHỮ FACEBOOK
Trần Xuân An

làm thơ, cho hai phía hiểu nhau
mới trông, như đòn xóc hai đầu
hai bó lúa, gấp trăm bó đũa
gánh lúa về, vai ta rạn đau *

lúa trải tròn mặt trời, trên sân
trâu đạp thóc rời. Xay. Giã. Giần
gạo trên sàng, chịu đun sôi lửa
từng chén chữ, mời hai phía ăn

Trung phần, đâu phải nhọn hai đầu
nhọn hai đầu: Lũng Cú, Cà Mau
ôm mũi xóc, không cọng lúa đứt
đến mâm cơm, hạt chữ thơm nhau

gần bảy năm, cuốc bẫm cày sâu
soi mặt sông, đầu bạc, trắng râu
lúa gánh rồi! Thôi, hai vai chín *
thơ hoà giải này vang tới đâu! 

T.X.A.
06:11-07:05, 19-02-2021
(Mùng 8 Tết Tân Sửu HB21)
………….

(*) Chín dạn: Đúng ra, phải viết là “chín rạn”. Đây là chữ của Nguyễn Du, một từ ghép trong “Văn tế thập loại chúng sinh” (“Văn Chiêu hồn”) của ông. Chín rạn: chỗ trên hai vai người bị đòn gánh tre, đòn xóc tre đè nặng, cọ xát, theo nhịp chân bước, khiến da bị chai lì, như thể bị chín bỏng đi và bị rạn nứt ra.
.
https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2832300527043880/
.
Ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp:

.

Bài 36, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
NGƯỜI VIỆT MÌNH HẬN THÙ NHAU LÀM CHI,
NỘI CHIẾN TRONG NGOẠI CHIẾN
Trần Xuân An

những mẩu tin hình sự
trên mặt báo hằng ngày
rởn gáy tận giấc ngủ
hoà bình, thế này đây!

nữa là thời nội chiến
trong ngoại chiến, bom dày
súng rền, luật bắn giết –
luật rừng – không ghê tay

miền Quốc gia, giết Đỏ
miền Cộng sản, giết Vàng
lẽ đương nhiên thời chiến!
sử mỗi làng bao trang?

trước chia cắt Bến Hải
sau đó, cũng máu xương
Pháp – Tàu, thác súng đổ
Mỹ – Nga, thác súng tuôn

cái ác trong người Việt
hay cái ác chiến tranh?
chiến tranh khiến người ác
ác, nhân danh tốt lành! 

Nam, vì bình yên nước
diệt “Cộng sản xâm lăng”
cấm liên lạc, tiếp tế
cấm chứa chấp “phiến quân” *

Bắc, vì bình yên nước
truy Quốc dân đảng tan
giết quan quân Bảo Đại
tề “nguỵ” của thực dân *

hiền lành và nhẫn nại
là người Việt nghìn đời
nhưng chiến tranh, mầm ác
bùng lên, tự vệ thôi 

chiến tranh tạo guồng máy
dựng tình thế mất còn
đinh ốc không thoát được
chôn địch kẻo địch chôn

chiến tranh là chém giết
lửa nung tham sân si
chiến tranh, quy luật ấy
hiểu vậy, thù hận chi! 

trăm ba mốt năm đó
truy nguyên, kẻ thù đâu?
kẻ thù chính là Pháp
là Tàu, dù đổi màu 

là Nga, đế quốc Đỏ
là Nhật theo Hitler
là Mỹ, thực dân mới!
ta thù nhau là mê

và tôn giáo chính trị
khiến đức tin cũng mù
chủ nghĩa công hữu Đỏ
nhiều súng, đầy ao tù

điểm nóng Chiến tranh Lạnh
ta hận thù nhau chi!
say máu, say thuốc súng
say tuyên truyền, sân si

bồi dưỡng thù, giết địch
hun đúc hận, lợi quyền
chiến tranh, kẻ thảm sát
án toà binh hẳn nguyên

biết bao người trẻ tuổi
học hành trong chiến tranh
không mảy may thù hận
đau nội chiến, sao đành!

trẻ tuổi, còn ảo tưởng
tưởng ảo tốt, cũng lành
hào quang Điện Biên phủ
Sài Gòn, hoà bình nhanh

đằng nào cũng lệ thuộc
cùng lệ thuộc một bên
gộp sức giành độc lập
quốc thể, không chịu hèn!

trẻ tuổi, hiểu quy luật
chiến tranh là thế thôi
đâu ngờ còn cách mạng
lật giai cấp, đổi đời 

(thơ tôi hồng thống nhất
trải lí lịch, thiệt thòi
coi bão táp cũng vặt
bút làm cán cân đời!)

chiến tranh, kẻ hận máu
hoà bình, người hận thời
may chủ nghĩa cọ xát
vào thực tiễn, bốc hơi

“Đổi mới” và “Cởi trói”
thành Miền Nam cả rồi
đỏ vàng lam chín đoá
bình sọ trắng vui cười.

T.X.A.
08:34-10:01, 20-02-2021

…………..

(*) Một vài từ ngữ hai bên Đỏ và Vàng dùng để miệt thị nhau, như “phiến quân” (quân xúi giục, giúp kẻ ác), “nguỵ” (giả dối, bù nhìn, giặc). Còn chữ “tề” là do ngữ “ban hội tề” được rút gọn. “Tề” cũng như “đồng” trong ngữ “ban hội đồng”: cùng nhau chung sức. Tên gọi "ban hội tề" tồn tại đến 1949 (theo một số tác giả nghiên cứu), về sau đổi danh xưng thành “ban hội đồng” ở các làng xã.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2833156620291604/
.

.

.
Ảnh từ Google search: Những địa danh gắn liền với tuổi học trò của tôi (thiếu An Giang, Sài Gòn – Gia Định).

.

CÂU ĐỐI 1 TẾT TÂN SỬU 2021

Trâu lịch Việt, tân niên, nghé ngọ mừng Xuân
Mai phương Nam, cổ truyền, long lanh thắm Tết 

T.X.A.
06-02-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2823955224545077/
.

.
CÂU ĐỐI 2 (HÀI HƯỚC) TẾT TÂN SỬU 2021

Covid vào Cồ Việt, Covid sợ; mừng còn Tết thương trâu
Côvơ đến Cổ Vời *, Côvơ lo; vui vẫn Xuân quý nghé 

T.X.A.
08-02-2021
………………

(*) Các vùng biển xa cổ xưa của nước ta.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2824711691136097/
.

.

.

.
Ảnh: Đôi trâu đang phi và hoa mai vàng (Google search).

Bài 37, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
BÓNG & TƯỢNG
NGƯỜI NÔNG DÂN GÁNH LÚA
TRÊN ĐỈNH NÚI SƠN CHÀ
Trần Xuân An

ý chí ngàn xưa vẽ lên trời cao
in bóng xuống trang thơ tôi: Người gánh lúa
dấu chân bước: Hoàng Sa, Trường Sa
ngọn bút tôi thành đục, thành búa
tạc tượng Người Nông Dân trên núi Sơn Chà 

mỗi hừng đông bóng ngã vào thành phố
mọi chiều tà bóng ôm Biển Đông ta
mến thương Phillipines trường thành đỡ bão
thân gần Phillipines vạn đảo
hào hoa

hình tượng Đất nước: Người gánh lúa
bó Nam phần, bó Bắc phần, trong chúng ta
mất bước chân Hoàng Sa, Trường Sa:
mất đôi chân Việt Nam xưa xa, sóng vỗ
— mất đôi chân cái bóng hình tượng đó! 

T.X.A.
08:23-11:12, 22-02-2021
………….

(*) Sơn Chà ở Đà Nẵng (có người ghi là Sơn Trà).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2834590186814914/

Ảnh của báo Phú Yên (Google search):


.

Bài 38, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
KHĂN TANG TRONG LÍ LỊCH
Trần Xuân An

1

bốn mươi tư năm chiến tranh
ruột thịt gia đình không có ai chết trận
tất cả đều được bình an
nhưng vẫn có ba nỗi niềm khăn tang
đã lắng 

trong quãng dăm năm Việt Minh
bà nội kính yêu, máy bay Pháp bắn
Kh’Mer Đỏ tấn kích, chết người anh
trong trại tù sĩ quan, sau tàn cuộc Sài Gòn
một đứa em chìm theo ghe ngoài biển

hai nỗi đau do giặc ngoại xâm
nói chi một nỗi đau do bão và sóng mặn
không là gì, so với đồng bào chung số phận
tràn ngập máu xương
non nước li tan

2

chiến tranh trong bao chiếc khăn tang
ở trăm triệu công dân, trăm triệu lí lịch
có loại lí lịch trích ngang về máu, nước mắt
bốn mươi tư năm chiến tranh
từ lâu siêu thoát khói nhang

dẫu sao, không dễ gì bị lí lịch giam cầm
nếu mọi người tự do tư tưởng, tự do cầm bút
(ruột thịt gia đình nội ngoại Miền Nam
có thời không chủ nghĩa lí lịch
tự quyết tự thân)

tự quyết con đường chính mình
trong đời sống, trên từng trang viết
có thể bị ngã, do đâu đó đẩy xô oan nghiệt
vẫn gượng lên, tự quyết chính mình
mỗi trang viết thách thức với nghìn năm

giải thoát cho mọi nhà sử, nhà văn
cho dù lí lịch Vàng hay Đỏ
cái tâm của mỗi người trên trang viết đó
hãy thách thức tác phẩm mình
với nghìn năm! 

3

không phải khăn tang trong lí lịch
mà chính là ba chiếc khăn tang
về ba cái chết Chân, Thiện, Mĩ
tầm mắt không thấu trần gian vạn năm
ba chiếc khăn tang này mới bịt mắt sử, văn… 

T.X.A.
05:12-07:01, 24-02-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2835968273343772/

Ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp:


Ngày Thơ Việt Nam (15-01 âl.)
& Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27-02 (2021)

Bài 39, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
VACCINE COVID-19 RẰM NGUYÊN TIÊU
Trần Xuân An

vầng trăng tròn, tròn làm chi
để khiếm khuyết rồi chờ khi trăng tròn
tròn trăng Cuội, lại hao mòn
triệu năm nữa trăng vẫn còn nguyên trăng 

phi thuyền không chở theo Hằng
vì trăng không Cuội! Truyện gần thực hơn
hình tượng Hằng lẻ, Cuội đơn
mơ cây thuốc, chín như non, trăng ngời

sự thật trần trụi lâu rồi
trăng vẫn đẹp cho cõi người ánh trăng
đẹp trăng chia sáng thế gian
rằng Cuội giấu thuốc thành chàng chiếc thân! 

mặt trời, tới gần, thành than
tội nhân độc nhất, tối dần sáng ra:
gương Cuội treo cõi người ta
án “tù” thuốc giấu xưa xa muôn đời

nếu chiết cành cho khắp nơi
nếu khắp nơi biết, cử người đến canh
cây chẳng lên trăng trời xanh
Cuội không níu rễ, sao đành Hằng xa! 

trừ mặt trời lửa cháy loà
cõi trần này, sáng nhất là Cuội thôi
triệu năm một tấm gương soi
tội ích kỉ lớn nhất đời phải chăng?

tôi và bạn, đêm Giêng trăng
cầm điện thoại, ngồi khác bàn, cách li
trăng Covid, trăng siêu vi
có nghe “tù” Cuội khóc gì Hằng ơi!

đày lên hoang vắng đơn côi
sáng là rõ án mặt trời soi cho
cây thuốc nghìn năm chết khô
truyện dân gian Cuội nhờ thơ nhắn Hằng

án không bản án, sáng trăng
ánh trăng đủ nhắc luật nhân quả đời
sự tích xưa định hình rồi *
giải mã này, đâu cưỡng lời nào đâu! 

thời Covid ngồi xa nhau
nỗi cô độc treo trên đầu rõ hơn
ích kỉ, không ai sống còn
nhìn trăng, kẻo dịch vùi chôn loài người! 

T.X.A.
06:34-08:02, 26-02-2021
………………

(*) Tôi giải mã căn cứ vào bản sưu tầm từ lâu đã cố định của học giả Nguyễn Đổng Chi.

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2837456903194909/

Xem thêm (nhưng chủ yếu căn cứ vào bản sưu tầm của Nguyễn Đổng Chi):
Dưới đây là bản rút gọn, cải biên một ít tình tiết, nhưng ý tứ không khác bản do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, lâu nay được xem là bản gốc:
Sự tích chú Cuội cung trăng
1. Ngày xửa ngày xưa có một tiều phu tên là Cuội. Một hôm Cuội vào rừng, bỗng đâu gặp một con hổ con xông đến. Không kịp tránh, anh đành liều mạng vung rìu lên đánh nhau với hổ.  Hổ còn non nên thua sức người, bị Cuội bổ một rìu, lăn quay ra đất. Vừa lúc đó, hổ mẹ về tới nơi. Cuội chỉ kịp quăng rìu,  leo tót lên cây. Từ trên cao nhìn xuống, Cuội thấy hổ mẹ chạy đến một bụi cây gần đó, đớp một ít lá về nhai mớm cho con. Khoảng giập bã trầu, hổ con tự nhiên cựa quậy, vẫy đuôi rồi sống lại. Chờ cho hổ mẹ tha con đi nơi khác, Cuội tìm đến bụi cây kia, đào gốc mang về.
2. Từ khi có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Một lần, Cuội cứu được con gái một phú ông, được phú ông gả cô gái ấy cho. Vợ chồng Cuội sống với nhau thật êm ấm. Nhưng một lần, vợ Cuội trượt chân ngã vỡ đầu, Cuội rịt lá thuốc cho mà mãi không tỉnh lại. Thương vợ, Cuội nặn thử bộ óc bằng đất cho vợ rồi rịt thuốc lại. Không ngờ vợ Cuội sống lại, tươi tỉnh như thường. Nhưng từ đó, người vợ mắc chứng hay quên.
3. Một lần, vợ Cuội quên lời chồng dặn, đem nước giải tưới cho cây thuốc. Vừa tưới xong, ai ngờ cây thuốc lững thững bay lên trời. Thấy thế, Cuội nhảy bổ đến, túm vào rễ cây. Nhưng cây thuốc cứ bay lên, kéo theo cả Cuội lên tít cung trăng.
    Ngày nay, khi nhìn lên mặt trăng, ta vẫn thấy chú Cuội ngồi dưới gốc cây thuốc quý.

(Theo TRUYỆN CỔ VIỆT NAM, do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm.
Nguồn: Sách giáo khoa lớp 3 (truyện đã được rút gọn, cải biên) – web loigiaihay. com).

—————— 

Trọn vẹn văn bản trong
“Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi (5 tập, in nhiều lần, Hà-nội, 1957 – 1982):

Cây thuốc cải tử hoàn sinh hay là sự tích thằng Cuội cung trăng

Ngày xưa ở một miền nọ có thằng Cuội làm nghề đốn củi. Tất cả tài sản của Cuội chỉ có một chiếc rìu. Một hôm như thường lệ, Cuội vác rìu đi vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi lội qua một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang hổ. Nhìn trước nhìn sau, chỉ thấy có bốn con hổ con đang vờn nhau trước hang, Cuội bèn xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay ra đất. Nhưng vừa lúc đó, con hổ mẹ cũng về tới nơi. Nghe một tiếng gầm kinh khủng ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quăng rìu leo thoăn thoắt lên một ngọn cây cao. Từ trên cây nhìn xuống, Cuội thấy hổ mẹ lồng lộn trước đàn con đã tắt thở.
Nhưng chỉ một lát sau, hổ mẹ bỗng bỏ con nằm đấy, lẳng lặng chạy đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, miệng đớp lấy một ít lá cây rồi trở về nhai mớm cho đàn con. Khoảng giập bã trầu, bọn con hổ tự nhiên cục cựa, vẫy đuôi rồi sau đó lại đi đứng chạy nhảy như thường. Biết đấy là cây thuốc thần, Cuội chờ cho hổ mẹ tha con đi nơi khác, lần xuống tìm đến cây thuốc kia, đào gốc vác về.
Dọc đường, Cuội gặp một ông lão nằm vật trên bãi cỏ. Cuội ghé lại xem thì ra ông lão đã chết. Chàng đốn củi liền đặt gánh xuống, không ngần ngại rứt ngay mấy lá cây quý rồi cúi xuống nhai mớm vào miệng ông lão. Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở bừng mắt tỉnh dậy. Ông hết lời cảm ơn chàng trai cứu mạng và hỏi chuyện. Thực tình, Cuội kể lại tất cả. Nghe xong, ông lão kêu lên:
– Trời ơi! Lão từng nghe nói cây này vốn tên là cây đa có phép “cải tử hoàn sinh”. Thật là lão có phúc mới được gặp con. Con hãy chăm vun bón cho nó để cứu thiên hạ. Nhưng nhớ đừng có tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó.
Nói rồi ông lão chống gậy ra đi. Còn Cuội thì gánh cây về trồng ở góc vườn để tiện chăm sóc hàng ngày. Luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào Cuội cũng tưới cây bằng nước giếng trong.
Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai vừa nhắm mắt tắt hơi là Cuội lập tức mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.
Một hôm, Cuội lội qua sông thấy xác một con chó chết trôi. Thương tình, Cuội vớt lên rồi giở lá giắt trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quýt theo Cuội tỏ lòng biết ơn. Từ đấy Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.
Một lần khác có một lão phú hộ ở làng bên cạnh hớt hơ hớt hải chạy đến tìm Cuội vật nài xin Cuội cứu cho con gái minh vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà và đưa lá ra chữa. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên. Rồi nàng mở bừng mắt ra, vươn vai ngồi dậy. Lão phú ông xiết hao mừng rỡ, bảo Cuội muốn lấy gì cứ việc chọn tùy thích. Cuội ngỏ ý chỉ muốn lấy cô gái làm vợ.
Biết Cuội là ân nhân của mình, cô gái thuận làm vợ chàng. Lão phú ông cũng bằng lòng gả con cho Cuội.
Vợ chồng Cuội sống với nhau thật vui vẻ êm ấm. Nhưng trong vùng có bọn con trai hồi trước vẫn ngấp nghé cô gái của lão phú ông, nay thấy bông hoa thơm tự nhiên lại lọt vào tay anh chàng đốn củi thì ngấm nghầm ghen tỵ và cố tìm cách làm hại cho bõ ghét. Một hôm chờ lúc Cuội lên rừng, chúng xông đến định bắt lấy vợ Cuội. Không ngờ vợ Cuội chống cự quyết liệt, chúng bèn giết chết. Giết đoạn, chúng vẫn sợ bị lộ vì biết Cuội có phép chữa cho người ta sống lại, nên chúng lại moi ruột người đàn bà vứt xuống sông rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội gánh củi trở về thì thấy vợ đã chết lạnh từ bao giờ rồi. Cuội vội bứt lá để mớm nhưng mớm bao nhiêu vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống lại được.
Thấy chủ khóc lóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến bộ ruột của mình để thế vào bộ ruột của cô chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ nhưng cũng liều nhắm mắt mượn bộ ruột chó thử cứu cho vợ mình xem sao. Quả thực sau khi lắp ruột vào, vợ Cuội lại sống lại như trước.
Thương con chó vì chủ mà chết, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất lắp vào bụng chó rồi nhai lá thuốc dịt vào; không ngờ chó cũng đứng dậy, vẫy đuôi liếm vào tay Cuội. Vợ với chồng, người với vật từ đây lại quấn quýt hơn trước.
Nhưng Cuội không ngờ rằng cũng từ dấy tính nết của vợ mình có phần thay đổi. Người đàn bà ấy dường như lú ruột lú gan, bảo một đàng làm quàng một nẻo. Điều đó làm cho Cuội lắm lúc bực cả mình. Cuội rất lo, vì không biết bao nhiêu lần chồng dặn vợ – “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Đông, cây giông lên trời”. Thế mà vợ Cuội nào có nhớ cho lời dặn quan trọng ấy.
Một buổi chiều, chồng còn kiếm củi chưa về, vợ Cuội đang hái rau ở vườn phía Đông bỗng thấy mót, bèn chạy vội lại gốc cây quý của chồng, chẳng còn nhớ gì đến lời dặn: cứ thế vén váy đái. Không ngờ vừa đái xong, tự nhiên cả một vùng đất chuyển động, cây cối xung quanh rung lên và gió thổi ào ào. Được một chốc cây đa long gốc bật rễ rồi lừng lững bay lên trời.
Giữa khi ấy Cuội đã bước chân về đến cổng. Thoáng thấy cây quý sắp bay mất, bên cạnh đó có cả người vợ đang kêu om sòm, Cuội đoán ra nông nỗi, lập tức vứt ngay gánh củi, nhảy bổ đến toan níu cây lại.
Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ còn kịp móc rìu vào rễ cây cốt để kéo cây xuống, nhưng cây vẫn một mực bốc lên không sức nào có thể ngăn lại. Về phía Cuội, chàng cũng nhất định không chịu buông rìu, thành thử cây thần kéo cả người Cuội bay lên mãi, lên mãi, cuối cùng đến tận cung trăng.
Từ đấy Cuội ở luôn tại cung trăng với cây đa của mình. Cho nên ngày nay mỗi khi nhìn lên mặt trăng ta luôn luôn thấy bóng của Cuội dưới gốc cây thuốc quý. Người ta kể rằng mỗi năm cây đa chỉ rụng có mỗi một lá mà thôi. Ai nhặt được lá cây ấy thì có thể dùng để cứu chữa người chết sống lại. Những con cá heo cũng biết như vậy, cho nên nếu lá rơi xuống biển, chúng tranh nhau đớp lấy coi như của quý để làm thuốc cứu chữa cho tộc loại.

(Nguồn bản vi tính: sachhayonline. com)

——————–
——————–

Trích tiểu thuyết “Ngôi trường tháng giêng” của Trần Xuân An (1998), Nxb. Thanh Niên ấn hành 2003:

“… Vầng trăng cổ tích! Cổ tích có chút châm biếm thói ích kỉ của chú Cuội khư khư giữ kín thuốc giấu, có niềm khát vọng chữa lành mọi vết thương đau trần thế, và còn có cả hai tâm trạng cô đơn nghìn năm vời vợi – nỗi nhớ trần gian –, dân dã thôi nhưng sâu thẳm hơn cả Xen Ê-xuy-pe-ri (Saint-Exupery). Lộc Biếc ngẩng mặt lên vầng trăng, vầng sáng của cô Hằng. Vâng, ích kỉ đồng nghĩa với cô đơn và cô độc, tuy có vợ có chồng ngày ngày bên nhau. Và cũng bởi ích kỉ, cây đa thần dược thành nơi phóng uế phàm tục! Vâng, ích kỉ sẽ tự đày mình vào một hành tinh hoang vắng. Vầng sáng tự ngàn xưa mờ mờ in dáng cây đa cổ thụ như một vết nhơ đa nghi, ích kỉ, cô độc!…”

.


Ngày Thơ Việt Nam & Ngày Thầy thuốc Việt Nam (15-01 âl. & 27-02 / 2021)
Bài 40, viết tiếp “Tổ quốc ơi…”
SINH RA TRONG CHIẾN TRANH,
GIÀ ĐI TRONG HẬU CHIẾN
Trần Xuân An

nghề văn cũng như nghề thuốc
hậu chiến cũng trầm trọng vết thương
phẫu thuật bằng lí lẽ vô trùng, đanh thép
thấu hiểu nỗi đau, tâm hồn cũng máu tuôn

vải trắng như giấy trắng, máu đọng
đỏ chữ thập, đỏ trăng non, đỏ kim cương
những mũi kim khâu hoà giải lành lặn
trông như vài cầu Hiền Lương

suốt đời tôi chưa từng cầm súng
cha anh là sĩ quan bàn giấy, công chức phố phường
nên kính nhân lên nghìn lần nỗi đau hậu chiến
bao gia đình oằn lưng tang chế máu xương

lí giải chính mình bằng chủ nghĩa lí lịch
là hạ mức độc lập mỗi người xuống tầm thường
nhưng thôi thì mỗi người tự hoà giải
chữ và tâm, tự phẫu thuật, khâu lấy vết thương

có nhà văn, cha là Việt Minh tập kết ra Bắc
một đời cầm bút chống cộng kiên cường
có nhạc sĩ, cha là đại thần, bị Việt Minh hành quyết
một đời bao bài ca Đỏ, chẳng hoen sương

vượt lên chủ nghĩa lí lịch, hồng lãng mạn
rồi đỏ chữ thập, đỏ trăng non, đỏ kim cương
nhưng viết — phẫu thuật, dưới ánh sáng trắng
ánh sáng đỏ hay vàng, hoà giải vô phương.

T.X.A.
13:34-15:01, 27-02-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2838524283088171/
.

.

Bài 41, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
HOÀ GIẢI “NGUỴ” VÀ “PHIẾN”
Trần Xuân An

người lính chiến nối liền sông bằng súng
nhà chính trị nối liền núi bằng cờ
dân thì sợ, quan không hoà giải thật
tôi hoà giải bằng tiểu thuyết và thơ… 

hai Nhà nước gọi nhau “nguỵ” và “phiến”
“nguỵ” tay sai, “phiến” phò ác ngoại bang *
miệt thị nhau! Tôi thương Vàng, mến Đỏ
nội chiến trong ngoại chiến, chống xâm lăng

mọi lí lịch đều có Vàng có Đỏ
vận nước chung, Chiến tranh Lạnh ba đời
như Triều Hàn, Trung Đài, Đông Tây Đức
“Nguỵ” và “Phiến” đều chung hương khói thôi

sử lưu trữ thơ ca... một phía Đỏ
sử lưu trữ tiểu thuyết... một phía Vàng
mai sau đọc, chỉ sử, văn hoà giải
người Việt Nam không thể mãi thù hằn

sáu lăm tuổi, năm mươi năm viết lách
Bến Hải đâu nghiêng hẳn Đỏ hoặc Vàng!
từng oán hận mình ôm bình xương sọ
nếu Việt gian, chín đoá đều Việt gian

đỏ năm đoá, lưu và rửa chữ “phiến”
lưu và rửa “nguỵ” bốn đoá vàng, lam
Chiến tranh Lạnh, hai chữ kia nội chiến
đất bình sọ: máu yêu nước Bắc – Nam.

T.X.A.
14:21-15:30, 02-03-2021
………….

(*) Theo từ điển Hán – Việt: “Phiến” (xúi giục, giúp kẻ ác): phiến quân, phiến cộng; “nguỵ” (giả dối, bù nhìn, giặc): nguỵ quân, nguỵ quyền. Chú thích bổ sung có tính sử học: Theo đài báo, nhất là các đài phát thanh Quốc gia Việt Nam, kế tục bởi Việt Nam cộng hoà tại Miền Nam, nội hàm từ “phiến cộng” được làm rõ bằng câu: Cộng sản Bắc Việt được hình thành và thống lãnh bởi “quan thầy Nga Sô, Trung Cộng”, mà chính xác là, Nga Sô uỷ nhiệm cho Trung Cộng. Đó là quan điểm, lập trường chính thống của Quốc gia Việt Nam, Việt Nam cộng hoà. Và sau đây là quan điểm, lập trường của Việt Nam dân chủ cộng hoà, rồi vẫn tồn tại trong giai đoạn Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Theo thông tin từ các sách báo, tài liệu trước đây ở Miền Bắc, gần đây trên cả nước, từ “nguỵ” gắn liền với vương triều Nhà Nguyễn, từ Đồng Khánh (1885) cho đến Bảo Đại, kể cả giai đoạn Bảo Đại phục hồi vương quyền với danh xưng quốc trưởng (1947/1949-1955), và “nguỵ” còn gắn liền với chính quyền Việt Nam cộng hoà (1955-1975).

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2840615196212413/
.



Bài 42, viết tiếp “Tổ quốc ơi… “
PHÁC THẢO VỀ NĂM MƯƠI NĂM
Trần Xuân An

tự ngẫm lại năm mươi năm viết lách
khảo Bắc thuộc, ngẫm Chiến tranh Đỏ – Vàng
Trăm-ba-mốt năm dài, dài Hậu chiến *
cây thống nhất có lá cành li tan 

Đất nước Đỏ, tôi Đỏ nghiêng quê ngoại
Đỏ nhưng hồn thuần chất Việt Nam mình
thơ Đỏ nhất, hiện nỗi niềm thất thế
nam Bến Hải in trên thẻ chứng minh *

lãng mạn Đỏ, nỗi niềm Vàng thấp thoáng
nửa nhân dân, tâm thế sử sang chương
đến “Cởi trói”, thơ từ mười bảy tuổi
đồng hiện cùng Bốn-tư năm máu xương *

dăm tiểu thuyết về lớp người Hậu chiến
truyện – hồi kí. Nghiên cứu, sáng thiên lương
nhân vật sử tổ tiên. Hai gốc nội
luận về thơ, những quen biết, thân thương

năm mươi năm, chất Đỏ sau “Cởi trói”:
Đỏ pha Vàng trước Thống nhất đó thôi
chống ngũ cường ngoại xâm là đạo lí *
sọ di sản nở chín đoá bông ngời

người Việt Nam bên này sông Bến Hải
sông điển hình cả Chiến tranh Đỏ – Vàng
trong Chiến tranh hai Khối – Cầu Ý Hệ
vượt sóng thần hai cuộc máu vỗ tràn

ngẫm về mình, bao giờ cũng phác thảo
sợ sơ suất trở thành vết sẹo oan
liệt kê rõ bốn mươi chín đầu sách *
năm mươi năm viết lách bút chưa tàn

mọi cuộc đời, lịch sử đều lưu dấu
chiến tranh rồi hậu chiến trên phận người
bị thua thiệt trăm bề, chỉ cầm bút
mong thời gian không phải hư vô trôi. 

T.X.A.
05:23-07:34, 05-03-2021
…………..

(*) ~ Một-trăm-ba-mươi-mốt năm:1858-1989; và Bốn-mươi-tư năm: 1945-1954-1975-1989. ~ Khoảng năm 1976, quận Gio Linh và đặc khu Vĩnh Linh hợp nhất thành huyện Bến Hải. Sau 1989, lại tách ra như cũ, Bến Hải chỉ còn là tên sông – dòng sông lịch sử. ~ Tránh những suy diễn không chính xác, xin vui lòng xem danh mục bốn mươi chín (49) đầu sách được tác giả viết với các thể loại (vài cuốn biên soạn, sưu tập).
~ Chú thích bổ sung:
sách Miền Nam chống tứ cường, trừ Mỹ
sách Miền Bắc chống tứ cường, trừ Nga
tâm trong sáng trẻ thơ ngời phép tính:
Pháp, Nhật, Trung, Nga, Mỹ xâm lăng ta.
(T.X.A.)

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2842536162686983/

Ảnh tác giả, do nhiếp ảnh gia Lê Văn Duy chụp:
.


Xem MỤC LỤC tập thơ 27/49 này và DANH MỤC TÁC PHẨM CỦA TÁC GIẢ TRẦN XUÂN AN (đầy đủ bốn mươi chín đầu sách) ở phần cuối trang này

Bài thơ viết thêm, sau khi đã hoàn tất tập thơ 27/49 (đã đóng tập, thực hiện sách PDF xong):

CỞI TRÓI TIỀN CHIẾN,
CỞI TRÓI HẬU CHIẾN
Trần Xuân An

~~ Tri ân nhà văn Nguyên Ngọc (1932-) thời “Cởi trói”.
Tưởng tiếc nhà văn “Tướng về hưu” (20-03-2021) ~~

mẫu quốc Pháp cởi trói
bật bút sắc Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Liên Xô cởi trói
Nguyễn Huy Thiệp khươi báo chí xôn xao

nhưng Hai Cuộc Sóng Thần châu Âu
vỗ ào
cuộn máu đồng bào
chưa bút ai tự cởi trói

tôi nghĩ bút mình len đất sâu
leo trời cao
cây lịch sử, bút tôi chạm vào lõi
131 vòng năm, khổ đau, dữ dội

không phải Pháp nào
Liên Xô nào
dân tộc ta phải tự cởi trói
tự trọng, tự hào, cho nghìn sau.

T.X.A.
15:22-16:20, 23-03-2021

https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2855860444687888/
.
Ảnh: Google search

Bài thơ 2 viết thêm, sau khi đã hoàn tất tập thơ 27/49 
(đã đóng tập, thực hiện sách PDF xong):

NHÁNH TRẦN XUÂN TỘC TRÚC LÂM 

Ở NHĨ TRUNG, CÙNG HUYỆN

Trần Xuân An


làng Rừng Trúc, triều Lý xưa *1

nam Ma Linh cũ, vua đưa lính vào

mấy trăm năm tiếp, dài sao

"Ô châu cận lục" ghi bao người hiền *2


Dụ vua Nguyễn lùng Tây phiên *3

thua Sơn Chà, Pháp xô nghiêng Sài Gòn

Ngài đọc sách cầm kiếm côn *4

sau "Nhâm tuất" rời Trúc thôn, lánh mình 


từ Nhĩ Hà đất cổ kinh *5

thành Nhĩ Trung ở Gio Linh, biển gần 

quê vợ, Ngài được dung thân 

nhà ngoài làng, kề tiếng chân liên làng *6


nhánh Trúc Lâm xanh cồn hoang 

bên sông Cánh, mươi mùa vàng bến ghe *7

Trúc Lâm, quê gốc, Ngài về

đời con, đời cháu sống quê Nhĩ này *8


đời chắt, huyết thống đổi thay 

sông Cánh Hòm tình đong đầy An Cư *9

thời Bến Hải đạn lửa mù

Nhĩ Trung, mồ mả hoang vu... Dời về...


về Rừng Trúc, đồi vắng hoe

"Ô châu cận lục": vọng nghe người hiền 

nghìn xưa còn đó, tương liên 

vọng Nhĩ Trung lối ngàn liền nẻo khơi


Trần Xuân tộc không bỏ rơi

ông vô sinh vẫn nối đời khói hương *10

khác huyết thống, sống nhiều phương 

con cháu nuôi vẫn bình thường Trần Xuân


ơn vô tận, nặng vô ngần 

ba đời giỗ, việc họ dần giỗ chung 

hai quê nội, không ngập ngừng

để tròn hiếu Nguyễn Văn cùng Trần Xuân


ân tình, ân nghĩa, thắm ân

cành huyết thống ghép căn phần dưỡng nuôi

hai họ nội, cha nên người 

dù bi kịch, đều vẹn cười, bà ơi


nếu "Cởi trói" thuở sinh thời

hẳn cha thôi ngại luỵ đời cháu con 

ghi gia phả: sinh, dưỡng tròn

An Cư son, Trúc Lâm son, điểm hồng


chuyện xưa ấy, lạ gì không 

bà trung trinh, kính yêu chồng đó thôi

vuông thư ông Nguyễn, dặn rồi *9b

nhìn nhận con tuổi ba mươi... Khóc bà...


cha nhìn con, con nhận cha 
chuyện đời trước, trước tôi ra chào đời
hai nội thân, từ thiếu thời
nghĩa nghiêm đạo lí, nắng soi ấm tình.


T.X.A.

12:23-16:02, 26-03-2021

(hai hôm sau ngày giỗ Bà Cố, 12-02 âm lịch)

...........


(*) 1. ~ Trúc Lâm (tên làng ở Gio Quang, Gio Linh, Quảng Trị): Rừng Trúc. Đất làng Trúc Lâm ở phía nam châu Ma Linh, thuộc về Đại Cồ Việt từ 1096,  cách bờ phía bắc sông Hiếu không xa (sông Hiếu có lẽ là ranh giới giữa châu Ma Linh và châu Ô). 

2. ~ Dương Văn An (1514-1591), “Ô châu cận lục”: “Trong xóm Trúc Lâm đâu thiếu người hiền nghỉ ngơi bên trúc” (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú, Nxb. Thuận Hoá, 2001, tr.75); “Miền thôn ổ Trúc Lâm phải chăng là nơi hiền nhân ẩn dật?” (Văn Thanh, Phan Đăng dịch, chú giải, Nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr.71). 

3. ~ Dụ lùng bắt người Tây phương xâm nhập trái phép của vua Tự Đức và trước đó (triều Minh Mạng, Thiệu Trị). “Hoà” ước Nhâm tuất 1862.

4. ~ Theo phong tục, từ Ngài (đại danh từ biểu thị sự tôn kính, nói chung) cũng được dùng để gọi các vị gia tiên trong dòng họ, từ đời vải (trên đời cố/cụ) trở lên.  

5. ~ Nhĩ Thượng, Nhĩ Trung, Nhĩ Hạ (+ Nhĩ Hà), theo các nhà nghiên cứu, vốn là cư dân ven bờ sông Hồng (Hà Nội), vào đất châu Ma Linh (Minh Linh), từ thời Lý, vị trí cũng gần kề đất Châu Ô (đất sính lễ Ô, Lý từ Chế Mân, vị vua Chăm cưới công chúa Huyền Trân triều Trần). Sách “Ô châu cận lục” viết: “Một dòng nước Nhĩ Trung đáng là chi lưu sông Nhĩ” (bản dịch TĐV. & HVP., sđd., tr. 78); “Sông ở Nhĩ Trung xứng là chi lưu của sông Nhĩ” (bản dịch VT. & PĐ., sđd., tr. 74). Tuy vậy, vẫn có tác giả cho rằng dân cư Nhĩ Trung, tuy cũng từ thời Nhà Lý, nhưng từ Thanh Hoá, Nghệ An, vào định cư tại đây (sau năm 1069, đời vua Lý Thánh Tông, Ma Linh, tức Minh Linh, đã thuộc về Đại [Cồ] Việt). Làng Nhĩ Trung trước 1975 thuộc xã Gio Mỹ, nay phân định lại, thuộc về xã Gio Thành (cùng xã với hai làng Nhĩ Hạ [+ Nhĩ Hà], Tân Minh), cũng thuộc huyện Gio Linh, Quảng Trị. Còn làng Nhĩ Thượng vẫn thuộc xã Gio Mỹ như xưa.  

6. ~ Nhà ở gần miếu Âm hồn (mộ ông Trần Xuân Điền trước đây ở vị trí sát miếu này), thuộc xóm Phường, rìa làng Nhĩ Trung xưa, gần kề đường liên thôn, bên kia đường là bờ sông Cánh Hòm. 

7. ~ Sông Cánh Hòm nối liền sông Thạch Hãn với sông Bến Hải. 

8. ~ Ông khuyết danh họ Trần Xuân lấy vợ, sinh con, sống ở Nhĩ Trung được mươi năm, rồi ông lại về Trúc Lâm, vì tình trạng phân biệt ngụ cư, chính cư, và vì thời gian sau khi hoà ước Nhâm Tuất (1862) kí kết đã khá lâu. Đời con: Trần Xuân Khai (mộ phần trước đây ở cồn Chùa, xóm Phường, Nhĩ Trung); đời cháu: Trần Xuân Điền (nông dân, có học Nho Lão Phật, biết việc địa lí phong thuỷ, nghi thức cúng tế); đời chắt (khác huyết thống): Trần Xuân Khuê. 

9 & 9b. ~ An Cư (Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) là nguyên quán của đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886). Ở đây, nói đến hậu duệ (ông Nguyễn, tức là ông Nguyễn Văn Tương, cha đẻ của ông Trần Xuân Khuê). 

10. ~ Ông nội Trần Xuân Điền vô sinh. 


https://www.facebook.com/tranxuanan.writer/posts/2858811371059462/


Xem thêm:

Bài cũ

Bài XXIV (trong tập thơ "Trong tôi Bến Hải & Thạch Hãn):

SÔNG CÁNH HÒM 

ĐỰNG CHUYỆN TÌNH XƯA

Trần Xuân An


Xem thêm:

Bổ chú:

1953, thơ Chế Lan Viên, Huy Cận, Tố Hữu: Chứng cứ phân hoá Quốc gia – Cộng sản


Xem MỤC LỤC tập thơ 27/49 này và DANH MỤC TÁC PHẨM CỦA TÁC GIẢ TRẦN XUÂN AN (đầy đủ bốn mươi chín đầu sách) ở phần cuối trang này

ą
Trần Xuân An,
02:06, 13 thg 3, 2021
Comments